Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1. Tổng quan một số khái niệm 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân là hình thức cấu tạo bên trong của nền kinh tế quốc dân, đó là tổng thể các quan hệ chủ yếu về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Cơ cấu kinh tế được hiểu là tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế cùng các mối quan hệ chủ yếu về định tính và định lượng, ổn định và phát triển giữa các bộ phận ấy với nhau hay của toàn bộ hệ thống trong những điều kiện của nền sản xuất xã hội và trong những khoảng thời gian nhất định.
Cơ cấu kinh tế không chỉ thể hiện ở quan hệ tỷ lệ về mặt số lượng mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mực tiêu cụ thể. Nếu các thước đo tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện mặt chất lượng trong quá trình phát triển. Đánh giá sự phát triển kinh tế cần xem xét một cách toàn diện việc hình thành và chuyển dịch của các loại hình cơ cấu kinh tế.157] Cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa các ngành với nhau.
Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể. Khái niệm cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để 6 trồng trọt và chăn nuôi để tạo ra lương thực, thực phẩm cho con người và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn với nhiều sản phẩm khác nhau, được phân chia theo các chuyên ngành như: - Phân ngành nông nghiệp bao gồm các tiểu ngành trồng trọt, chăn nuôi và hoạt động dịch vụ có liên quan. - Phân ngành lâm nghiệp bao gồm các tiểu ngành: trồng rừng, ươm giống, khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ và hoạt động dịch vụ có liên quan.
- Phân ngành thủy sản bao gồm các tiểu ngành: nuôi trồng và khai thác thủy hải sản ở các vùng biển ven bờ, sông, hồ, các thung lũng có nước. (Vì tỉnh Tuyên Quang nằm sâu trong đất liền, không có biển nên trong luận văn này, tác giả tập trung vào nuôi trồng và đánh bắt thủy ở sông, hồ (Tuyên Quang có hồ Thủy điện Tuyên Quang khá lớn), các ao, thung lũng có nước.) Cơ cấu ngành nông nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ về số lượng và giá trị giữa các chuyên ngành, tiểu ngành bộ phận. Nói cách khác, cơ cấu ngành nông nghiệp phản ánh quan hệ tỷ lệ về giá trị sản lượng, quy mô sử dụng đất của các chuyên ngành, tiểu ngành cấu thành nên ngành nông nghiệp. Các chuyên ngành, tiểu ngành này được xem xét trên các quy mô: tổng thể nền kinh tế, vùng và tiểu vùng.
Cơ cấu ngành nông nghiệp thể hiện vị thế của từng chuyên ngành, tiểu ngành trong mối quan hệ với toàn ngành nông nghiệp (qua các tỷ lệ khác nhau tham gia vào ngành nông nghiệp) trong một thời gian nhất định. Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, các chuyên ngành, tiểu ngành có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau phát triển trong phạm vi về không gian, thời gian và trên cơ sở điều kiện hạ tầng kinh tế ở từng nơi. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự chuyển dịch từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với phân công lao động và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của các điều kiện về kinh tế xã hội phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế nhất định. Thực chất quá trình này là quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu, lỗi thời hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới hoàn thiện và phát triển hơn.
Nhìn chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩa lớn tác động đến mục tiêu 7 phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo. Góp phần vào sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các loại chuyển dịch cơ cấu kinh tế: - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ kinh tế. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu ngành Cơ cấu ngành kinh tế, trong đó có nông nghiệp là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định.
Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi về vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc CDCC ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp là kết quả của quá trình phát triển về số lượng, chất lượng ngành nông nghiệp trong khoảng thời gian nào đó, vì vậy nó không phải là các quan hệ tĩnh mà luôn luôn biến đổi không ngừng theo sự phát triển của các chuyên ngành, tiểu ngành tạo nên cơ cấu toàn ngành.
Đó là sự thay đổi tất yếu về tỷ lệ giữa các chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản trên quy mô cả nước, trên các vùng kinh tế - sinh thái; thay đổi về số lượng, loại hình quy mô các chủ thể tham gia sản xuất kinh danh trong các chuyên ngành, tiểu ngành ở các vùng sinh thái; sự thay đổi về mối quan hệ giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế khác như: công nghiệp và dịch vụ cung ứng đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản và các hoạt động phân phối, tiêu thụ 8 nông sản làm ra. Như vậy, sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các chuyên ngành, tiểu ngành trong nông nghiệp là quá trình CDCC ngành nông nghiệp, phản ánh lợi thế và khả năng phát triển của các chuyên ngành, tiểu ngành trên tầm quốc gia, vùng và tiểu vùng. Khái niệm chính sách kinh tế, chính sách kinh tế nông nghiệp, chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành, chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp Chính sách Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng phổ biến trên sách báo, các phương tiện thông tin và đời sống xã hội. Mọi chủ thể kinh tế - xã hội đều có những chính sách của mình.
Theo quan niệm phổ biến, chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại. Chính sách kinh tế Chính sách kinh tế (economic policy) là hành động của chính phủ để đạt được một hay nhiều mục tiêu kinh tế. Các chính sách kinh tế là những chính sách điều tiết các mối quan hệ kinh tế nhằm tạo ra động lực phát triển kinh tế. Các chính sách kinh tế lại tạo thành một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều chính sách: Các chính sách cơ cấu kinh tế, trong đó có chính sách CDCC ngành nông nghiệp; Chính sách tài chính; Chính sách phân phối; Chính sách cạnh tranh;.
Các chính sách kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển của đất nước vì đóng vai trò tạo ra cơ sở để thực hiện tất cả các chính sách công khác. Theo thời gian phát huy hiệu lực thì có 03 loại loại chính sách: Chính sách dài hạn; chính sách trung hạn; chính sách ngắn hạn. Chính sách kinh tế nông nghiệp Chính sách kinh tế nông nghiệp là tổng thể các biện pháp kinh tế và những biện pháp khác của Nhà nước (từ Trung ương đến địa phương) tác động đến nông nghiệp và các ngành, lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến nông nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu nhất định mang lại hiệu quả kinh tế, với những điều 9 kiện thực hiện nhất định và trong một thời gian xác định. Chính sách nông nghiệp khác với chính sách nói chung ở đối tượng mà nó tác động.
Đó chính là nông nghiệp và các ngành, lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến nông nghiệp. Chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành là những chính sách làm thay đổi cơ cấu ngành theo định hướng nhất định nhằm phát triển kinh tế của đất nước theo hướng phù hợp với bối cảnh. Theo chiến lược phát triển kinh tế quốc dân, chính sách cơ cấu ngành kinh tế bao gồm các hình thức: chính sách cơ cấu ngành kinh tế theo mô hình nông nghiệp; nông nghiệp - công nghiệp; công nghiệp - nông nghiệp - thương mại, dịch vụ; công nghiệp - thương mại, dịch vụ. Chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp là quá trình thay đổi (tăng hoặc giảm) về quy mô, giá trị của các chuyên ngành sản xuất thuộc ngành nông nghiệp theo hướng thích ứng nhiều hơn với nhu cầu thị trường đồng thời phát huy được lợi thế so sánh của từng chuyên ngành, tạo ra cơ cấu ngành nông nghiệp mang tính ổn định cao hơn và phát triển bền vững hơn trong kinh tế thị trường và hội nhập.