Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH BIỂN ĐẢO THỜI MINH TRỊ 1. Điều kiện địa lý Nhật Bản là một quốc đảo nằm ở phía Đông lục địa châu Á, phía Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương; là quần đảo hình cánh cung gồm hơn 1000 hòn đảo lớn nhỏ, mặt cung quay ra biển. Hình dáng nước Nhật Bản như hiện nay đã được hình thành từ khoảng 2000 năm trước đây. Vị trí địa lý Nhật Bản trải dài từ Bắc xuống Nam khoảng 2500 km, (kéo dài khoảng 25 vĩ độ, từ đảo Okinotori - 20º25'N đến cực bắc của vùng Etorofu 45º33'N gần Hokkaido).
Nhật Bản có đường bờ biển dài với tổng chiều dài khoảng 33.889 km, bờ biển bị chia cắt theo nhiều địa hình, nhiều chỗ ăn sâu vào đất liền tạo nên nhiều vũng vịnh và có nhiều cửa sông. Xung quanh Nhật Bản là một loạt các biển thông nhau. Phía Đông và Nam là Thái Bình Dương, phía Tây Bắc là biển Nhật Bản, phía Tây là biển Hoa Đông, phía Đông Bắc là biển Okhotsk. Vùng biển nằm giữa Honshu và Shikoku gọi là biển Seto Naikai.
Vùng biển Nhật Bản có hải lưu Kuroshio chảy lên từ phía Nam và hải lưu Oyashio chảy từ phía Bắc xuống. Do đặc điểm tự nhiên và điều kiện địa lý hình thành đồng bằng tương đối hẹp, đường bờ biển dài, có các dòng biển chảy qua và có nhiều vũng vịnh nên đã tạo thuận lợi cho Nhật Bản phát triển kinh tế biển, đánh bắt thủy hải sản xa bờ và xây dựng các bến cảng, mở rộng giao thông buôn bán với nước ngoài bằng đường biển. Ngay từ xa xưa các hoạt động giao thương trên biển đã có điều kiện phát triển sớm. Do đặc điểm quốc gia là một đảo quốc nên Nhật Bản được thụ hưởng những thuận lợi từ biển mang lại, có điều kiện phát triển kinh tế biển như đánh bẳt thủy hải sản, công nghiệp đóng tàu, vận tải đường biển.
Nhưng bên cạnh các lợi ích do biển mang lại thì điều kiện tự nhiên cũng chứa đựng những nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia từ đường biển. Vì thế chính sách quốc phòng, chiến lược đối ngoại nhằm đảm bảo an ninh đường biển cũng 13 như bảo vệ an toàn quốc gia luôn được chính quyền Nhật Bản các thời kì đặc biệt coi trọng, chính phủ mới thời Minh Trị cũng không nằm ngoài ý thức đó. Và yếu tố điều kiện địa lý là một trong các nhân tố góp phần hình thành nên chính sách biển đảo thời kì này. Chính sách biển đảo của chính quyền Nhật Bản trước thời Minh Trị Chính sách biển đảo của chính quyền Nhật Bản cho đến trước thời Minh Trị chủ yếu tập trung vào các hoạt động huấn luyện binh sĩ, phát triển sức mạnh thủy quân để giải quyết tranh chấp trên biển, bảo vệ Nhật Bản trước các thế lực bên ngoài.
Đây cũng là lực lượng được các thế lực phong kiến các thời kì sử dụng triệt để nhằm giải quyết xung đột, tranh giành quyền lực trong các cuộc nội chiến. Song song với việc phát triển thủy quân, chính quyền đầu tư đóng các loại tàu có khả năng kéo dài thời gian hoạt động trên biển nhằm phục vụ giao thương buôn bán và nâng cao năng lực tác chiến trên biển. Từ xa xưa Nhật Bản đã có những xung đột về hải quân với lục địa châu Á ít nhất là bắt đầu từ thời kỳ Kofun do nguyên nhân từ việc vận chuyển quân giữa Triều Tiên và Nhật Bản. Trong thời kì mậu dịch Namban, đã có những hoạt động giao thương trên biển giữa Nhật Bản với các thương nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan đến Nhật.
Chính quyền phong kiến Nhật Bản tiến hành xây dựng hải quân rầm rộ từ thế kỷ thứ 16; trong Thời Chiến quốc, những lãnh chúa phong kiến đua nhau xây dựng những đội thủy quân khổng lồ lên tới vài trăm chiến thuyền. Trong khoảng thời gian này, Nhật Bản đã có thể đóng được những Thiết giáp hạm đầu tiên. Năm 1576, Oda Nobunaga – một Daimyo nổi tiếng thời Chiến quốc Nhật Bản, người có công rất lớn trong việc thống nhất Nhật Bản – đã ra lệnh đóng 6 Thiết giáp hạm Atakebune (安宅船 An Trạch Thuyền). Sau thời kì mậu dịch Namban (南蛮貿易時代 Namban boueki jidai), qua quá trình thông thương với các nước phương Tây, Nhật Bản đã đóng được những chiến thuyền lớn đầu tiên để đi 14 lại trên biển.
Năm 1613, một Daimyo của vùng Sendai đã cho đóng chiếc Datemaru (伊達丸Y Đạt Hoàn, một dạng thuyền chiến), tàu được trang bị vũ khí và kết hợp với các công nghệ phương Tây sau đó được Mạc phủ ủy nhiệm dùng chủ yếu để giao thương với Đông Nam Á. Hình 1: Thiết giáp hạm Atakebune Hình 2: Một chiếc Châu ấn thuyền của (安宅船 An Trạch Thuyền) do Oda Nhật kết hợp cả công nghệ Đông và Tây Nobunaga ra lệnh đóng năm 1576 vào năm 1634 Từ năm 1640 và trong hơn 200 năm sau đó, chính quyền Tokugawa Bakufu thi hành chính sách sakoku (鎖国 – Tỏa quốc), ngăn cấm mọi tiếp xúc với phương Tây, cấm đạo Thiên Chúa, đồng thời ngăn cấm việc đóng thuyền có thể đi biển được, ai vi phạm sẽ bị phạt nghiêm khắc bằng biện pháp đánh đòn hay tử hình. Chính sách sakoku của chính quyền Bakufu đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều mặt kinh tế, đối ngoại, quốc phòng an ninh của Nhật Bản. Việc thông thương hướng ra biển của Nhật Bản với thế giới bên ngoài trong thời gian này gần như bị đình trệ.
Điều này đã gây ra những phản ứng với một bộ phận quần chúng nhân dân, bởi lẽ Nhật Bản là quốc gia châu Á tiếp xúc và chịu ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây từ rất sớm, nên sau sự kiện chính quyền Tokugawa cấm lưu hành sách phương Tây năm 1720 thì ở Nhật Bản đã xuất hiện phong trào học tiếng Hà Lan nhằm mục đích học tập kĩ thuật phương Tây. Người Nhật Bản với phản ứng nhanh nhạy với cái mới đã không ngừng vươn ra bên ngoài, từ tìm hiểu Hà Lan tiến đến tìm hiểu nhiều quốc gia châu Âu khác, và điều đó càng được thôi thúc khi chính quyền Tokugawa ban hành chính sách “tỏa quốc” – sakoku. Không những thế, những người có tư 15 tưởng học theo Hà Lan còn muốn khuếch trương mậu dịch quốc gia, mong muốn biến nước Nhật thành một quốc gia hùng mạnh về kinh tế như các nước tư bản phương Tây. Tuy “đóng cửa” nhưng chính quyền Bakufu vẫn mở “hé cửa” để nhìn ra thế giới, ưu tiên giao thương, tiếp xúc với Hà Lan thông qua tô giới Hà Lan tại Dejima, nhờ thế một khối lượng lớn kiến thức liên quan đến kỹ thuật phương Tây trên nhiều lĩnh vực y học, toán học, thiên văn, hàng hải, cơ khí.
đã được chuyển giao vào Nhật. Kĩ thuật đóng tàu phương Tây được Nhật Bản tiếp tục học hỏi một cách đầy đủ vào những năm 1840 trong cuối thời Edo (幕末 Mạc Mạt – Bakumatsu) và diễn ra mạnh mẽ trong những năm sau đó. Hình 3: Tàu chiến Shohei Maru của Nhật năm 1854 (được chế tạo nhờ học hỏi kỹ thuật đóng tàu của Hà Lan) Vào cuối thời Edo, chính sách bài xích phương Tây của chính quyền Bakufu có phần được nới lỏng do tình hình thế giới bên ngoài có nhiều biến đổi và trước sức ép của các nước phương Tây đang tìm mọi cách để “mở cửa” Nhật Bản. Giai đoạn 1852 – 1854, Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ Matthew Perry đã thực hiện những cuộc biểu dương lực lượng ngoài khơi vịnh Edo gồm những chiến hạm chạy hơi nước mới nhất của Hải quân Mỹ mà lịch sử 16 thường gọi là “Hắc thuyền”2; và những phát súng cảnh cáo của Perry tại vịnh Edo thực sự đã làm thức tỉnh người Nhật.
Perry cuối cùng cũng khiến cho nước Nhật phải mở cửa thông thương với quốc tế thông qua Hiệp ước Kanagawa năm 18543. Sau đó không lâu, Hiệp ước mang tên “Nhật – Mĩ tu hiếu thông thương điều ước” được kí kết vào ngày 29 tháng 7 năm 1858. Hiệp ước này bề ngoài mang hình thức hợp tác thương mại và hữu nghị giữa Nhật – Mỹ nhưng thực chất chứa đựng nội dung bất bình đẳng, bất lợi cho Nhật Bản. Trước ảnh hưởng ngày càng lớn của phương Tây đã buộc chính quyền Tokugawa nhượng bộ, phải kí kết các điều khoản, hiệp ước với Mỹ, Anh, Nga, Pháp, Hà Lan, và cánh cửa giữa Nhật Bản với thế giới phương Tây cũng theo đó mà ngày càng được mở rộng.
Có thể nói, sự kiện “Hắc thuyền” là bước ngoặt đặt Nhật Bản trước nhiều mối nguy cơ thách thức hiện hữu rõ rệt từ phương Tây. Tuy vậy người Nhật cũng nhận thấy rõ yếu kém của mình trước sức mạnh phương Tây, coi đây là cơ hội để đổi mới đất nước nên dần tiếp nhận những giá trị từ nền văn minh phương Tây mang lại rồi hướng tới việc tiếp nhận tích cực nền văn minh ấy. Khi lực lượng của Perry đến Nhật Bản, chính quyền Tokugawa đã mở cuộc điều tra khắp đất nước nhằm trưng cầu các ý kiến đưa ra các giải pháp trước sự đe dọa của phương Tây. Rất nhiều kiến nghị đã được phản hồi nhưng hầu như không đưa ra được lời giải thỏa đáng và phần lớn đại diện cho hai luồng ý kiến trái ngược nhau.
Trong số đó nổi lên ý kiến của Katsu Kaishu, 2 Matthew Perry chỉ huy Hải đoàn Đông Ấn (East India Squadron) là những chiến tàu frigate hơi nước với cột và thân tàu được sơn màu đen đến Nhật Bản lần đầu vào năm 1852 với mục đích tìm kiếm một hiệp ước thương mại với Nhật Bản. Ngay khi đặt chân tới Nhật Bản, Perry đã ra lệnh cho hạm đội của mình hướng thẳng đến Edo, hướng súng vào thị trấn Uraga đe dọa sử dụng vũ lực và chuyển thư của Tổng thống Mĩ Millard Fillmore gửi cho chính phủ Nhật Bản. Tàu của Perry được trang bị hải pháo Paixhans có sức công phá lớn. Do sự kiện này mà từ đó về sau thuật ngữ “Hắc Thuyền” (黒船 kurofune) được sử dụng để chỉ mối đe dọa của kĩ thuật công nghệ phương Tây.
3 Matthew Perry trở lại Nhật vào tháng 2 năm 1854 với số lượng tàu gấp đôi và 1800 quân, lần này cơ bản các yêu cầu trong thư của Fillmore đã được đáp ứng và Perry chính thức kí kết Hiệp định Kanagawa với chính quyền Bakufu vào ngày 31 tháng 3 năm 1854. 17 ông chỉ ra rằng đoàn “Hắc thuyền” của Perry có thể dễ dàng vào được vịnh Edo là bởi vì Nhật Bản không có lực lượng hải quân đủ mạnh để đủ sức ngăn chặn.