Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TẠI DI TÍCH KHẢO CỔ CÁT TIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Những khái niệm về bảo tồn, giá trị văn hóa, di sản văn hóa, di tích khảo cổ Cát Tiên Khái niệm về bảo tồn: Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về bảo tồn di sản văn hóa, cụ thể như sau: Theo Từ điển Tiếng Việt “bảo tồn” là giữ lại không để cho mất đi, bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó [34, tr28]. Bảo tồn là không để mai một, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái. Đối tượng “bảo tồn” phải được nhìn nhận là tinh hoa, đã khẳng định được giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn.
Đối tượng được bảo tồn (giá trị di sản văn hóa) cần thỏa mãn hai điều kiện sau: - Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một giá trị đích thực được thừa nhận minh bạch, không phải hoài nghi hay tranh cãi. - Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, tiềm năng đứng vững lâu dài (tức là có giá trị lâu dài trước những biến đổi tất yếu của đời sống vật chất và tinh thần của con người nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập như hiện nay). Quan điểm của UNESCO về bảo tồn di sản văn hóa: Bảo tồn mang nghĩa rộng hơn, là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và tránh sự xuống cấp của kết cấu đó. Như vậy, bảo tồn là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của di sản văn hóa nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho di sản văn hóa và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội [35, tr16].
17 Luan van Công tác bảo tồn di sản văn hóa có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạt động: bảo tồn nguyên trạng, trùng tu, gia cố, tái định vị, phục hồi, tái tạo - làm lại, qui hoạch bảo tồn. Vấn đề đặt ra là khi bảo tồn một di sản văn hóa cụ thể cần nghiên cứu, chọn lựa phương án thích hợp với từng địa phương, từng đặc thù riêng để đảm bảo rằng cái chúng ta đang trưng bày là xác thực chứ không phải đồ giả. Trên cơ sở tôn trọng các điều khoản của Hiến chương Venice, UNESCO đã ban hành Công ước về việc bảo tồn các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới vào năm 1972. Tiếp đến năm 2003, UNESCO ban hành Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, được sự đồng thuận của trên 120 quốc gia thành viên mà Việt Nam là một trong số những thành viên đó.
Với mục tiêu tăng cường nhận thức về tầm quan trọng và thống nhất hoạt động bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Công ước yêu cầu các nước cam kết có những biện pháp bảo đảm việc bảo vệ và duy trì sự tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, cùng với sự phối hợp chặt chẽ ở cấp vùng và cấp quốc tế cho mục tiêu này [35, tr3]. Có thể thấy, các biện pháp bảo vệ do Công ước đề ra, nhất là biện pháp kiểm kê (xác định giá trị di sản), tư liệu hóa cho thấy quan điểm tôn trọng yếu tố gốc của loại hình di sản này. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá có thể có 2 quan điểm như sau: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa. Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng tĩnh): Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng tĩnh là vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như vốn có về kích thước, vị trí, chất liệu, đường nét, màu sắc, kiểu dáng Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng tĩnh là điều tra sưu tầm, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc chặt chẽ, giữ chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình (video), băng tiếng (audio), ảnh.
Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng. 18 Luan van Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng động): Bảo tồn động, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa. Các di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại. Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn động là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng.
Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy chúng trong đời sống xã hội. Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng đồng, nương náu trong tiếng nói, hình thức diễn xướng, nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian. Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của những con người đặc biệt mà chúng ta thường mệnh danh là những nghệ nhân hay là những báu vật nhân văn sống. Cần phải phục hồi các giá trị một cách khách quan, sáng suốt, tin cậy, khoa học chứ không thể chủ quan, tùy tiện.
Tất cả những giá trị phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, có giá trị thực chứng thuyết phục thông qua các dự án điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản các dấu tích di sản văn hóa phi vật thể. Bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng chính là phương thức lý tưởng nhất. Nếu không thể bảo tồn nguyên dạng thì có thể bảo tồn theo hiện dạng đang có. Bởi theo quy luật của thời gian thì các di sản văn hóa phi vật thể ngày càng có xu hướng xa dần nguyên gốc.
Nếu không thể khôi phục được nguyên gốc thì bảo tồn hiện dạng là điều khả thi nhất. Tuy nhiên, hiện dạng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nguyên dạng. Theo đó, cần xác định rõ thời điểm bảo tồn để sau này khi có thêm tư liệu tin cậy thì sẽ tiếp tục phục nguyên ở dạng gốc di sản văn hóa. Bảo tồn các di sản, di tích là việc làm quan trọng và vô cùng cần thiết trong công cuộc kiến thiết nước nhà.
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, hệ thống pháp luật qua các thời kỳ đều đề cập đến yêu cầu bảo vệ, giữ gìn, phát huy giá trị của các di tích lịch sử, di sản văn hóa, nghệ thuật, danh lam thắng cảnh đất nước. 19 Luan van Ngày 23/11/1945, chỉ hơn 2 tháng sau khi nước nhà giành được độc lập, dù còn bộn bề các công việc cấp bách cần giải quyết, nhưng với tầm nhìn minh triết của một vĩ nhân - danh nhân văn hóa kiệt suất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SLvề bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam. Sắc lệnh xác định việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam. Điều 4 của Sắc lệnh nêu rõ: Cấm phá hủy đình chùa, đền miếu, hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn.
Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử [25]. Với ý nghĩa lịch sử to lớn của Sắc lệnh này, ngày 24/2/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 36/QĐ-TTg lấy ngày 23/11 hàng năm là Ngày Di sản văn hóa Việt Nam nhằm phát huy truyền thống và ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân hoạt động trên lĩnh vực di sản văn hóa, động viên và thu hút mọi tầng lớp xã hội tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Khái niệm về giá trị văn hóa: Con người có khí, có sinh, có tri, có lễ nghĩa, đó là loài quý giá nhất. Cho nên có thể biểu hiện qua giá trị văn hóa: về thực chất là sự khẳng đỉnh của con người đối với sự tồn tại của vật chất lẫn tinh thần của bản thân mình, quan hệ trật tự của mình, hành vi thái độ của mình, khích lệ con người sống và phát triển theo giá trị của mình.
Giá trị văn hóa: là hệ giá trị văn hóa nói chung và văn hóa con người nói riêng chính là hệ giá trị của con người tức là phát triển nhân cách, đạo đức tâm hồn lối sống, trí tuệ, năng lực sáng tạo, tuân thủ các chuẩn mực đạo đức chung của cộng đồng. Giá trị là phạm trù riêng của con người liên quan đến lợi ích vật chất lẫn tinh thần của con người đó chính là tính nhân văn của xã hội, có giá trị định hướng, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động của con người trong cộng đồng xã hội. Giá trị ấy gắn liền với nhu cầu của con người, chính nhu cầu ấy đã thúc đẩy động lực của con người, giúp con người tạo ra các giá trị văn hóa tạo ra các giá trị văn hóa sản sinh ra những ý 20 Luan van tượng, trí tuệ, năng lực, sức sáng tạo, khát vọng nhân văn của con người được được biểu hiện qua đạo đức lối sống trong xã hội, tạo nên nét độc đáo, đậm đà bản sắc truyền thống của dân tộc. Mỗi dân tộc dều có lịch sử hình thành và phát triển, trải qua quá trình lịch sử lâu dài sáng tạo nên một nền văn hóa của riêng mình.
Đó chính là giá trị văn hóa Khái niệm di sản văn hóa: Di sản: di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại; sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau, gồm các tác phẩm nghệ thuật dân gian, công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, tác phẩm văn học.