Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VÀ TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TÂY NGUYÊN TRONG NHỮNG NĂM 1945-1950 1. Khái quát về Tây Nguyên 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tây Nguyên là vùng rừng núi trùng điệp, hiện nay gồm có 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông1, Lâm Đồng nối tiếp nhau chạy dài theo hướng Bắc – Nam. Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Nam; phía Nam nối liền với các tỉnh Đông Nam Bộ (tỉnh Bình Phước và Đồng Nai); phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận; phía Tây giáp với Lào và Đông Bắc Campuchia, với đường biên giới chung là 732 km (Nam Lào 288km, Đông Bắc Campuchia 444km) [34, tr.
Tây Nguyên2 là vùng rừng núi, với nhiều núi cao, rừng rậm, có nhiều ngọn cao từ 1. Do địa thế hiểm trở, Tây Nguyên có một thế đứng vô cùng lợi hại có thể khống chế hầu như toàn bộ khu vực xung quanh, giữ vị trí chiến lược quan trọng không những đối với miền Nam nước ta, mà cả với phần Nam Đông Dương. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, rừng ở Tây Nguyên còn bạt ngàn, che phủ trên 80% diện tích tự nhiên. Trong 5 cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lang Biang, Di Linh có độ cao trung bình từ 700- 800m, trong đó nổi lên một số dãy núi cao có giá trị khống chế các khu vực xung 1 Đắk Nông được tách từ Đắk Lắk ra thành lập theo quyết định 23/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2 Ở đây có nhiều tài liệu dẫn khác nhau, theo Bộ Tư lệnh quân khu 5, Khu 5- 30 năm chiến tranh giải phóng, xuất bản năm 1986, trang 16: Tây Nguyên rộng 67.000km2, còn theo Từ điển Bách khoa quân sự, do Trung tâm từ điển bách khoa quân sự - Bộ Quốc phòng thì Tây Nguyên có diện tích rộng khoảng 55.568,9km2, hay theo Ban chỉ đạo Tây Nguyên, Tây Nguyên trên đường phát triển bền vững ở trang 19 có diện tích rộng khoảng 54. Còn theo Bộ Tổng tham mưu, Chuyên đề Chiến tranh du kích trên chiến trường Tây Nguyên trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb QĐND, trang 7, thì Tây Nguyên có diện tích rộng khoảng 37. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hai cao nguyên Pleiku và Đắk Lắk nối liền nhau, hợp thành một vùng đất rộng ở trung độ Tây Nguyên, vùng đất này lại nối liền với Đông Bắc Campuchia tạo thành một chiến trường có dung lượng lớn ở phía bắc Đông Dương.
Nằm vào khoảng giữa nam bán đảo Đông Dương, nơi có chung biên giới với Lào và Campuchia, Tây Nguyên có mạng lưới giao thông phong phú, đa dạng, có thể ra Bắc, vào Nam, xuống đồng bằng ven biển, sang Lào và Campuchia. Quốc lộ số 14 chạy từ Đà Nẵng lên phía Tây, xuyên suốt chiều dài Tây Nguyên vào đến Đông Nam Bộ. Đường 19 từ cảng Quy Nhơn lên giáp Đường 14 ở thị xã Pleiku rồi chạy thẳng sang Đông Bắc Campuchia giáp với Đường số 13 ở phía Nam Thị xã Stung treng. Đường số 7 (nay là đường số 25) từ thị xã Tuy Hoà đi Cheo Reo và giáp với Đường 14 ở ngã ba Mỹ Thạch.
Đường số 21 nay là Đường số 26 từ Ninh Hoà (Khánh Hoà) lên đến thành phố Buôn Ma Thuột. Đường số 11 (nay là Đường số 20) từ thị xã Phan Rang lên Đà Lạt. Đường số 8 (nay là Đường số 28) ở phía Nam Thị xã Phan Thiết lên giáp với Đường số 20 ở Di Linh rồi chạy thẳng lên gặp Đường số 14 ở ngã ba Đắk Song. Đường 20 từ ngã ba Dầu Giây (Đồng Nai) lên Đà Lạt.
Đường số 18 từ Đắk Tô (Kon Tum) đi Nam Lào. Tất cả các con đường này đều chạy qua các vùng núi cao, rừng rậm, lắm đèo, nhiều dốc quanh co, có đèo với chiều dài lên đến 20km. Hệ thống sông ngòi ở Tây Nguyên dọc ngang chằng chịt, lắm ghềnh nhiều thác; là nơi khởi nguồn của 4 hệ thống sông chính gồm: hệ thống sông Pô Kô - Sê San ở Kon Tum đổ vào sông Mê Kông; hệ thống sông Ba - Ayun ở Gia Lai đổ vào sông Đà Rằng chảy ra biển Đông; hệ thống sông Sêrêpôk ở Đắk Lắk đổ vào sông Mê Kông và hệ thống sông Đồng Nai ở Đắk Nông và Lâm Đồng chảy ra biển Đông. Vào mùa mưa, nước dâng cao và chảy xiết.
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, lại có độ cao trung bình từ 400m đến hơn 2.000m so với mực nước biển, có núi, cao nguyên và vùng trũng, khí 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hậu Tây Nguyên vừa có những điểm chung, vừa có những điểm riêng, đan xen, phức tạp, gồm nhiều tiểu vùng, nhưng phổ biến là khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch, thường gây ra lũ lớn, làm cho việc đi lại gặp nhiều khó khăn. Mùa khô, phần lớn các con sông nhỏ và suối đều khô, cạn, nhất là ở Nam Tây Nguyên. Tây Nguyên là vùng đất đỏ ba dan lớn nhất nước ta. Các loại cây cao su, cà phê, chè đều rất thích hợp.
Do điều kiện địa hình đa dạng tạo cho Tây Nguyên không chỉ có thể trồng chủ yếu các loại cây công nghiệp mà còn có điều kiện phát triển nông nghiệp tương đối toàn diện. Những vùng đất phù sa màu mỡ chạy dọc theo các con sông lớn ở Gia Lai, Đắk Lắk có thể làm nông nghiệp trồng lúa 2 đến 3 vụ trong một năm. Tuy nhiên, nền kinh tế Tây Nguyên cho đến trước cách mạng tháng Tám 1945, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên chủ yếu sống theo lối du canh, du cư, quanh năm thiếu đói. Người Kinh chủ yếu làm trong các đồn điền của chủ tư bản Pháp, bị bóc lột nặng nề, cuộc sống thiếu đói, kham khổ, làm cho bức tranh kinh tế Tây Nguyên nghèo nàn, lạc hậu.
Đơn vị cơ sở xã hội ở Tây Nguyên là buôn làng với những đại gia đình theo chế độ mẫu hệ. Các gia đình trong một buôn đều có quan hệ thân tộc hoặc thích tộc ở những mức độ khác nhau, mối quan hệ đó là cơ sở để hình thành một cộng đồng của buôn, làng được duy trì khá bền vững. Xuất phát từ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, trong điều kiện phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt nên đã hình thành trong mỗi cộng đồng các dân tộc những tập quán tốt trong sản xuất, sinh hoạt hàng ngày. Đặc biệt, tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau và tinh thần thượng võ là đặc điểm nổi bật của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
Bên cạnh đó, Tây Nguyên vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan, cúng cử, một số tập tục trong ma chay, cưới hỏi, tục giết ma lai. Các yếu tố mê tín đã ảnh hưởng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và tác động nhiều đến cuộc sống sinh hoạt, đời sống sản xuất của đồng bào. Những yếu tố này là tâm điểm để kẻ thù xâm lược lợi dụng, kìm hãm nhân dân các dân tộc trong vòng tăm tối, thực hiện chia rẽ dân tộc, thôn tính lâu dài và làm giảm bớt tinh thần đấu tranh của nhân dân. Dân cư, truyền thống yêu nước và cách mạng Tây Nguyên là nơi sinh sống của gần 30 dân tộc anh em, nhưng mật độ dân số còn rất thấp.
Đến năm 1936, số lượng của một số dân tộc đông người nhất ở đây như sau: dân tộc Gia Rai có 151.300 người, Bana có 147.000 người, Sê Đăng có 12.000 người, Mạ có 34.150 người, M’nông có 31.160 và Kơ Ho là 64.4700 người [97, tr. Dân cư thưa thớt, tuyệt đại bộ phận đồng bào các dân tộc ít người thường sinh sống ở vùng núi cao hoặc các vùng đất bằng ở xa các đô thị. Tuy không hình thành những vùng lãnh thổ tộc người riêng, nhưng mỗi bộ tộc đều quần tụ trong một khu vực nhất định. Các bộ tộc có số lượng đông thường theo nhóm người địa phương.
Vào khoảng thế kỷ XVII, khi quân Nguyễn đánh vào Nghệ An, chiếm 7 huyện Nam sông Cả, bắt cư dân người kinh đưa vào sống ở vùng Tây Sơn; tiếp theo là một số dân lao khổ ở đồng bằng lên sinh cơ lập nghiệp, đến giữa thế kỷ XVIII đã có một số thôn ấp người Kinh ở vùng Tây Sơn thượng đạo. Đến thế kỷ XIX, một số cư dân ở các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định và một số theo đạo Thiên chúa giáo, để lánh sự truy nã của triều đình Huế đã đến sinh sống ở Kon Tum, Gia Lai… Ở Lâm Đồng, trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ nhất, chỉ có đồng bào dân tộc ít người. Khi xâm lược nước ta, đặt chân đến Lâm Đồng và phát hiện cao Nguyên Lang Biang và Di Linh (1893), đặc biệt sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp mới ra sức bắt ép người Kinh từ miền Bắc, miền Trung đưa lên xây dựng Đà Lạt, Di Linh và khai thác vùng Lâm Đồng. Trong khi đó, ở Đắk Lắk, do chính sách ngăn cấm của thực dân 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp nên đến năm 1929 mới có người Kinh lên sinh sống.
Do đó, tính đến năm 1936, toàn Tây Nguyên mới chỉ có 30.750 người Kinh sinh sống [97, tr. 255] và cho đến trước ngày cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, phần lớn người Kinh là công nhân ở các đồn điền, còn lại phần ít tham gia sản xuất nông nghiệp, số còn lại buôn bán nhỏ, làm nghề thủ công ở các thị xã, thị trấn. Bên cạnh người Kinh, người Hoa đã đến Tây Nguyên khi các thị xã bắt đầu hình thành, chủ yếu sống bằng buôn bán. Về văn hoá, mặc dù có một số điểm khác nhau, nhưng tựu chung lại đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn còn lưu giữ và duy trì được những yếu tố văn hoá thống nhất tiêu biểu cho nền văn hoá bản địa cổ đại.
Theo các tài liệu khảo cổ cho chúng ta thấy, Tây Nguyên thuộc vùng đất cổ, có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đã tồn tại các tập đoàn dân cư cổ, đã định cư nông nghiệp phân bố khá rộng. Tiêu biểu nhất vẫn là văn hoá Biển Hồ và văn hoá Cát Tiên. Văn hoá Biển Hồ phân bổ khá rộng trên cao nguyên đất đỏ Pleiku và có quan hệ nhất định với Văn hoá Sa Huỳnh của cư dân ven biển Trung Bộ. Các nền văn hoá đó góp phần tô đậm thêm truyền thống văn hoá và bức tranh tiền sử của các dân tộc Tây Nguyên.