Chương 1: Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xây dựng phong trào chiến tranh du kích thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1950). Chương 2: Đảng bộ lãnh đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích từng bước đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn càn quét, khủng bố, bình định của địch, giải phóng quê hương (2/1950 –7/1954) Chương 3. Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm. 7 z CHƢƠNG 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG PHONG TRÀO CHIẾN TRANH DU KÍCH THỜI KỲ ĐẤU KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-1950) 1.
Đôi nét về địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội và truyền thống yêu nƣớc cách mạng của nhân dân Thái Bình 1.1 Đôi nét về địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội Tỉnh Thái Bình nằm ở phía đông nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, có diện tích tự nhiên 1546 km2 (số liệu 2003) được bao bọc bởi 3 dòng sông lớn. Phía Tây và Tây Nam là sông Hồng, giáp hai tỉnh Hà Nam và Nam Định. Phía Bắc là sông Luộc giáp hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương. Phía Đông Bắc là sông Hóa giáp với thành phố Hải Phòng.
Phía Đông là biển cả mênh mông với trên 54km bờ biển trong Vịnh Bắc Bộ. Cùng với 3 dòng sông lớn bao quanh, trên địa bàn còn có 70 dòng sông lớn nhỏ. Thời nước Văn Lang của các vua Hùng, tỉnh Thái Bình ngày nay thuộc bộ Lục Hải. Thời Bắc thuộc thuộc huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ.
Sau khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng ( năm 938) chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, vùng đất Thái Bình hiện nay thuộc Châu Đông. Năm 1005, thời Tiền Lê, Châu Đông được đổi thành phủ Thái Bình. Tên Thái Bình có từ đây. Đến thời Lý, Trần vùng đất Thái Bình hiện nay thuộc các lộ Kiến Xương, Long Hưng, Tiên Hưng.
Phủ Long Hưng có các huyện Ngự Thiên, Duyên Hà, Cổ Lan, Thần Khê. Phủ Kiến Xương có các huyện Bí, Bồng Điền, Kiến Xương, Chân Lợi. Phủ Tiên Hưng có các huyện Thái Bình, A Côi, Đa Dực, Tây Quan. Thời Hậu Lê, theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Thái Bình có 3 phủ, 11 huyện, 525 châu, xã, thôn, trang… Thời Nguyễn vùng đất Thái Bình hiện nay thuộc trấn Sơn Nam Hạ chia làm 3 phủ gồm 11 huyện, 82 tổng, 602 xã, thôn, trang, phường.1890, toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Thái Bình.
Tính đến ngày 1.1893 8 z tỉnh Thái Bình có 2 phủ gồm 10 huyện, 79 tổng, 548 xã. Đến năm 1926 Thái bình có 12 phủ huyện gồm 95 tổng, 814 xã và 1 thị xã. Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng tổ chức lại cấp xã. Xã mới thường gồm một số xã cũ (hoặc một số làng) hoặc là một tổng cũ.
Trong kháng chiến chống Pháp, Thái Bình có 1 thị xã và 12 huyện ( Vũ Tiên, Thư Trì, Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Ninh, Thụy Anh, Đông Quan, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Duyên Hà, Hưng Nhân, Tiên Hưng) và 162 xã. Hiện nay, Thái Bình có 1 thành phố và 7 huyện ( Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Thái Thụy) với 7 thị trấn và 286 xã, phường. So với các tỉnh đồng bằng Tả Ngạn sông Hồng, Thái Bình có diện tích tự nhiên tương đối rộng. Sông Hồng đoạn chảy qua Thái Bình dài 80km qua các huyện Hưng Nhân, Thư Trì , Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải rồi đổ ra biển theo cửa Ba Lạt chỗ rộng nhất lên tới 1000m, có nhiều đoạn quanh co gấp khúc bên lở bên bồi, sâu từ 15 đến 30m.
Trong kháng chiến, sông Hồng là tuyến giao thông đường thủy chiến lược đối với việc vận chuyển lương thực, quân số, vũ khí của địch từ ngoài biển vào Nam Định, Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Phía Tây Bắc là sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) bắt nguồn từ Hà Xá (Hưng Nhân) chảy qua huyện Hưng Nhân, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Vĩnh Bảo (Hải Phòng) dài 40km, chỗ rộng nhất 150m, hẹp nhất 70m. Sông Luộc cũng là con đường thủy vô cùng quan trọng. Phía Đông Bắc là sông Hóa dài 60km, bắt nguồn từ Lộng Khê ( Phụ Dực) chạy theo ven huyện Thụy Anh, Phụ Dực ra biển, quãng rộng nhất là 150m, hẹp nhất 70m.
Cả ba con sông này địch đều thiết lập một hệ thống đồn bốt để bảo vệ, gây cho ta nhiều trong bảo quản giao thông liên lạc và tác chiến. Bờ biển Thái Bình dài 54km, có các cửa sông lớn như: cửa Ba Lạt, cửa sông Trà Lý, cửa sông Thái Bình và cửa Lân.8] Ngoài ba con sông lớn bao quanh, nội đia Thái Bình còn có 4 con sông tương đối lớn khác là: Trà Lý, Diêm Hộ, Kiến Giang, Sa Lung. Thái Bình là 9 z tỉnh duy nhất của miền Bắc không có núi rừng, đất đai màu mỡ, phì nhiêu, nông nghiệp và ngư nghiệp khá phát triển, là 1 trong những vựa lúa lớn của đồng bằng sông Hồng. Do điều kiện tự nhiên là vùng đất được phù sa bồi đắp, bằng phẳng, các cánh đồng phần lớn có nước quanh năm.
Đặc điểm địa hình kể trên khiến cho việc bảo đảm hậu cần, cơ động lực lượng tác chiến của quân dân ta rất khó giữ bí mật,việc phát triển, cất giấu thóc lúa, của cải và đào hầm hào cũng rất khó khăn…Địa hình bằng phẳng còn có lợi thế cho địch đóng cứ điểm, xây lô cốt cao, có thể kiểm soát cả một vùng. Thái Bình còn có hệ thống giao thông đường bộ thuận tiện. Từ Thái Bình theo đường quốc lộ số 10 có thể đi Hải Phòng, Quảng Ninh, cũng theo đường 10 có thể đến Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa vào Khu 4. Đường 39 nối Thái Bình với Hưng Yên, theo đường này có thể xuống Hải Dương, lên Hà Nội và các tỉnh Đông Bắc, Tây Bắc.
Cùng với 2 con đường quan trọng này, Thái Bình còn có một hệ thống đường giao thông liên huyện là đường 216, 217,218,219,220… dài tổng cộng 500km. Hệ thống đường giao thông ngang dọc chia cắt địa bàn Thái Bình thành từng khu vực nhỏ từ 3-7km, tuy thuận tiện cho việc giao thông, có lợi phần nào cho cách đánh du kích, nhưng cũng gây trở ngại cho ta khi địch chiếm đóng chốt giữ những đoạn yết hầu với những phương tiện hiện đại của chúng.7] Nhìn chung, địa hình, đất đai, khí hậu… của Thái Bình đối với hoạt động của con người chứa đựng sẵn hai mặt: thuận lợi, ưu đãi và khó khăn, thách thức. Những thuận lợi tạo ra khả năng cho Thái Bình xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc, đảm bảo yêu cầu thiết yếu cho cuộc sống và chiến đấu. Song những khó khăn lại đòi hỏi cư dân ở đây phải cố kết chặt chẽ, phải biết lợi dụng quy luật tự nhiên, và chiến đấu chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, tạo điều kiện cho ý thức cộng đồng sớm hình thành và phát triển.
10 z Trong chiến tranh đây là địa bàn địch có khả năng phát huy ưu thế về phương tiện và vũ khí hiện đại. Thực tế đó đòi hỏi quân dân Thái Bình phải biết lợi dụng và cải biến địa hình địa vật để tổ chức xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, phát động chiến tranh du kích để duy trì và phát triển lực lượng, chủ động đánh địch với những hình thức thích hợp. Dân cư Thái Bình có nguồn gốc từ nhiều nơi. Họ tụ cư và hợp cư ở đây bằng lao động, chinh phục và cải tạo tự nhiên.
Sau cách mạng tháng Tám dân số Thái Bình có gần 1 triệu người, mật độ dân số 650 người /km2, xếp hạng thứ 4 của đồng bằng sông Hồng và thứ 5 so với cả nước[66, tr. Vì vậy, Thái Bình được ví như là kho người mà ta và địch đều muốn giành giật. So với các tỉnh khác thuộc châu thổ Bắc Bộ thì Thái Bình có lịch sử hình thành đất đai và cư dân mang tính gối sóng tương đối rõ rệt. Nhiều làng cổ thuộc vùng đất Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Vũ Thư có lịch sử trên dưới 2000 năm.
Tuy nhiên, số làng được khai phá từ thời Trần trở về sau chiếm tỉ lệ cao, những làng coi là mới được xác lập ở Tiền Hải từ cuộc đại khẩn hoang của Nguyễn Công Trứ bắt đầu từ năm 1828 đến nay cũng đã có lịch sử gần 200 năm. Cư dân Thái Bình vốn là sự hội tụ từ các luồng cư dân có gốc từ Sơn Tây, Hà Đông, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Quảng Yên, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Nam, Nam Định,. và có cả một bộ phận theo đường biển từ Bắc xuống, từ Nam ra vốn làm nghề đánh cá về sau định cư trên đất Thái Bình. Họ mang theo những tập quán sản xuất, những truyền thống văn hóa ở nơi ở cũ đến vùng này và nhanh chóng hòa nhập với sự phát triển chung của nền văn hóa bản địa.
Đến nay, ở Thái Bình có 58 dòng họ, cư dân hầu hết là người Kinh. Người dân Thái Bình sống bằng nghề nông là chủ yếu nên làng xã là điểm quần cư của họ. Những xóm làng nhỏ liền nhau được bao bọc bởi những cánh đồng lúa nước mênh mông, có nơi làng nọ áp lưng vào làng kia, hay chỉ cách nhau một con đường hoặc một con sông đào…Trong làng có nhiều ao, 11 z ngòi, xen lẫn với những lũy tre, ngăn cách thành từng khu vực nhỏ. Xung quanh làng thường được bao bọc bởi các lũy tre xanh tốt, dày đặc.
Nhiều làng còn được bao quanh bởi những con sông hoặc nằm giữa cánh đồng lầy. Làng xóm ở phía bắc tỉnh thường rải rác nhỏ hẹp khó tổ chức chiến đấu chống địch càn quét, dễ bị địch bao vây chia cắt. Các làng xóm ở phía nam tỉnh rộng lớn hơn, gần kề liên tiếp nhau thuận lợi cho việc xây dựng trận địa liên hoàn và rào làng kháng chiến như những khu : Thần Huống (Thái Ninh), Trại Chè ( Kiến Xương), Quang Thẩm (Vũ Tiên)… Nhìn chung, làng xóm ở Thái Bình thường gọn và tập trung, dễ bị phi pháo của địch phá hoại, nhưng cũng là chướng ngại cho địch, chúng không thể dễ dàng triển khai hành quân theo đội hình cũng như không thể giữ vững cự ly của các mũi tiến quân, hoặc hoạt động của cơ giới khi bị ta phá hoại đường xá. Về phía ta, đây là nơi bộ đội địa phương và dân quân du kích có thể tiến hành chiến tranh du kích rộng khắp.
Trong kháng chiến ta đã dựa vào những xóm làng tự nhiên này để xây dựng hàng loạt làng chiến đấu các khu căn cứ du kích, đánh bại các cuộc hành quân càn quét, phá âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” của địch.