Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài 8 Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp Chương 3: Phân tích thực trạng nâng cao chất lượng nhân lực tại Công ty Cổ phần Thương mại và Đầu tư Forio Chương 4: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại Công ty Cổ phần Thương mại và Đầu tư Forio 9 CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP 2. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản liên quan đến chất lượng nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực. Quản trị nhân lực Cho đến nay có rất nhiều khái niệm về quản trị nhân lực, một số cách tiếp cận về quản trị nhân lực như: Theo tác giả Phạm Vũ Luận - Giáo trình Quản trị Doanh nghiệp Thương Mại, nhà xuất bản thống kê (năm 2004) thì: “Quản trị nhân lực là một trong những chức năng cơ bản của quy trình quản trị, nó giải quyết những vấn đề có liên quan đến con người gắn với công việc của họ trong bất kỳ tổ chức nào”. Tuy nhiên, theo Trần Kim Dung - Giáo trình quản trị nhân lực, nhà xuất bản thống kê (năm 2006) thì: “Quản trị nhân lực chính là chức năng cán bộ, một trong những chức năng cơ bản của quản trị nhân lực là đi sâu vào nghiên cứu, khai thác mọi tiềm năng cho mỗi nhân viên, khuyến khích họ làm việc chủ động sáng tạo với hiệu suất cao, làm việc tận tâm trung thành với công ty”.
Mặt khác, theo Vũ Thùy Dương và Hoàng Văn Hải - Giáo trình quản trị nhân lực, nhà xuất bản thống kê (năm 2010) thì: “Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung của doanh nghiệp”. Với đề tài này, trong suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu, em đi theo khía cạnh tiếp cận của tác giả Vũ Thùy Dương và Hoàng Văn Hải - Giáo trình quản trị nhân lực, nhà xuất bản Thống kê (năm 2010). Theo cách tiếp cận này, quản trị nhân lực vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, là một trong những nội dung quan trọng trong cách thức quản trị trong các doanh nghiệp. Quản trị nhân lực bao gồm các nội dung như hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động nhằm tạo ra, duy trì, và phát triển các yếu tố con người trong tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức đó.
Nhân lực và nhân lực trong doanh nghiệp 2. Nhân lực Theo tác giả Trần Xuân Cầu - Giáo trình phân tích lao động xã hội (năm 2004) thì “Nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp”. Theo tác giả Vũ Thùy Dương và Hoàng Văn Hải - Giáo trình quản trị nhân lực, nhà xuất bản thống kê (năm 2010) thì: “Nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp”.
Trong đề tài này em đi theo cách tiếp cận của Vũ Thùy Dương và Hoàng Văn Hải - Giáo trình Quản trị nhân lực - Nhà xuất bản thống kê (năm 2010). Theo cách tiếp cận này, nhân lực được xem xét ở cả phương diện chất lượng, số lượng và vai trò của con người đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Nhân lực trong doanh nghiệp Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về nhân lực trong doanh nghiệp: Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân - Giáo trình quản trị nhân lực căn bản, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân (năm 2010) thì: “Nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Theo tác giả Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn - Giáo trình quản trị nhân lực căn bản, nhà xuất bản thống kê (năm 2016) thì: “Nhân lực trong tổ chức/ doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/ doanh nghiệp”.
Trong đề tài này em đi theo cách tiếp cận của tác giả Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn - Giáo trình quản trị nhân lực căn bản, nhà xuất bản thống kê (năm 2016). Theo cách tiếp cận này, nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp được coi là vốn 11 nhân lực. Đó là tập hợp năng lực (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm) mà mỗi con người tích lũy được. Chất lượng nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp 2.
Chất lượng nhân lực Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận về chất lượng nhân lực: Theo tác giả Nguyễn Tiệp - Giáo trình nguồn nhân lực, nhà xuất bản lao động xã hội (năm 2005) thì: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống của dân cư”. Theo tác giả Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh - Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, nhà xuất bản đại học Kinh tế quốc dân (năm 2008) thì: “Chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”. Theo tác giả Bùi Văn Nhơn – Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, nhà xuất bản tư pháp (năm 2006) thì: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc”.
Trong đề tài này em đi theo cách tiếp cận của giả Bùi Văn Nhơn – Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, nhà xuất bản tư pháp (năm 2006). Theo cách tiếp cận này, chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được thể hiện thông qua 3 mặt: thể lực, trí lực, tinh thần. Ba mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, thể lực là nền tảng, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực, ý thức tác phong làm việc là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực trí tuệ thành thực tiễn.
Hơn nữa, tác giả hoàn toàn nhất trí với quan điểm về chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp của PGS.TS Vũ Thị Mai, trường đại học Kinh tế quốc dân: “Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động (thể lực, trí lực, tinh thần) so với yêu cầu cụ thể đặc trưng của 12 doanh nghiệp”. Nâng cao chất lượng nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con người trong lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý – xã hội) đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển (TS. Nâng cao chất lượng nhân lực chính là sự tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một quốc gia, doanh nghiệp. Do đó, chất lượng nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển của mỗi quốc gia, doanh nghiệp.
Thông qua chất lượng nguồn nhân lực thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, trình độ khả năng của mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu của đề tài: “Nâng cao chất lượng nhân lực là quá trình nâng cao kiến thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp để đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc mà người lao động đảm nhận”. Chất lượng nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp 2. Các yếu tố cấu thành chất lượng nhân lực 2.
Kiến thức Theo Từ điển Tiếng Việt (2005): “Kiến thức là tổng thể tri thức, hiểu biết mà một người lĩnh hội, tích lũy qua trải nghiệm hoặc học hỏi”. Kiến thức của con người là một yếu tố đầu tiên và quan trọng cấu thành năng lực của con người. Là tập hợp tất cả những gì thuộc về quy luật hoặc có tính quy luật của thế giới xung quanh, của nghề nghiệp được con người nhận thức. Kiến thức được biểu hiện thông qua trình độ đào tạo, ngành nghề ưu tiên, kiến thức chuyên sâu của nghề đang đảm nhận, kiến thức hiểu biết về xã hội, kinh nghiệm.
Kiến thức bao gồm : - Kiến thức nghề nghiệp. - Kiến thức chuyên môn. 13 - Kiến thức quản lý. - Kiến thức trong lĩnh vực làm việc.
- Kiến thức khác bổ trợ phục vụ công việc. Kiến thức là quá trình tích lũy từ học tập, nghiên cứu, đào tạo trong công việc và sự quan sát, học hỏi của cá nhân. Kiến thức chịu ảnh hưởng của yếu tố học vấn, kinh nghiệm, định hướng phát triển cá nhân. Một số kiến thức có thể xác định thành các tiêu chuẩn, một số kiến thức khó xác định và đưa ra tiêu chuẩn để đánh giá.
Kiến thức quan trọng nhất của con người phản ánh năng lực của người đó tốt hay kém là kiến thức về chuyên môn trong lĩnh vực công tác.