Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Thiết kế phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng hoạch định chiến lƣợc kinh doanh của Công ty TNHH Kỹ Thuật Xây Dựng Đồng Phong Việt Nam Chương 4: Giải pháp hoạch định chiến lƣợc kinh doanh tại Công ty TNHH Kỹ Thuật Xây Dựng Đồng Phong Việt Nam 5 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Chiến lược kinh doanh đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, các công trình nghiên cứu là vô cùng phong phú.
David (2015), quản trị chiến lược đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển năng động và hiệu quả của doanh nghiệp. Với công cụ quản trị chiến lược được áp dụng toàn diện, doanh nghiệp sẽ hiểu rõ mình là ai và mình muốn trở nên như thế nào để xác lập được định hướng phát triển và hoạch định các bước đi đúng đắn trong dài hạn; xác định mục tiêu phù hợp với khả năng hiện có và triển vọng phát triển, kể cả tham vọng phát triển kinh doanh toàn cầu; huy động và phân bổ nguồn lực hợp lý; tiên lượng được nhu cầu của thị trường, nhận thức đầy đủ cơ hội và thách thức, biết làm cho doanh nghiệp mình trở nên khác biệt với những ưu thế cạnh tranh đặc biệt để có thể giành chiến thắng trong quan hệ cạnh tranh một cách chủ động. Đồng thời, doanh nghiệp cũng có thể hoàn toàn chủ động điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình để đảm bảo cho nó luôn luôn phù hợp với những biến động không ngừng của môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế. Vậy, điểm khác biệt căn bản giữa doanh nghiệp áp dụng công cụ quản trị chiến lược toàn diện so với doanh nghiệp không coi trọng công tác quản trị chiến lược chính là tính chủ động.
Và lợi ích cơ bản nhất mà công tác quản trị chiến lược có thể mang lại là sự chiến thắng trong quan hệ cạnh tranh trên thị trường mục tiêu của doanh nghiệp một cách hoàn toàn chủ động. Bizzell (2003) cung cấp cho người đọc những kiến thức cần thiết, từ khái niệm chiến lược, sách lược kinh 6 doanh đến phân tích môi trường kinh doanh ở các tập đoàn kinh tế lớn và ở cấp doanh nghiệp thành viên. Cuốn sách nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như trong tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá việc thực hiện chiến lược, sách lược kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu trong môi trường hiện tại cũng như tương lai. Liam Fahey – Robert M.
Randall (2012) cho rằng: Không có chiến lược, các tổ chức giống như một con thuyền không người lái và đi lòng vòng. Nó giống như một con tàu không có hải trình cố định, và không có nơi nào để tới. Trên thế giới, có rất nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các start-up, không quan tâm đầy đủ đến công tác quản trị chiến lược mà vẫn hoạt động bình thường. Nhưng thực tế cũng chỉ ra rằng tại những doanh nghiệp phát triển năng động và hiệu quả, nhất là đối với những công ty có quá trình vươn lên tầm vóc kinh doanh toàn cầu nhanh chóng, như Microsoft hay Apple chẳng hạn, thì công tác quản trị chiến lược toàn diện rất được coi trọng ngay từ khi khởi nghiệp.
Các tác giả đã chỉ ra điểm khác biệt giữa doanh nghiệp có và không có áp dụng công cụ quản trị chiến lược, cũng như lợi ích mà công tác quản trị chiến lược mang lại cho doanh nghiệp. Kaplan và David P. Norton (2019) cha đẻ của “thẻ điểm cân bằng” balanced scorecard, đã đưa ra “bản đồ chiến lược” (Strategy Map) để sử dụng các thước đo về tài chính để đánh giá hiệu quả kinh doanh và họach định chiến lược cho doanh nghiệp. Áp dụng Bản đồ chiến lược, các nhà lãnh đạo nhận thấy rằng trình bày chiến lược theo các biểu, bản đồ với những mối quan hệ nhân quả qua lại mà người ta có thể nhìn thấy được vừa có tính tự nhiên vừa có sức mạnh thúc đẩy những điều chỉnh và những quyết sách thích ứng trong kinh doanh.
Nhấn mạnh vào tầm quan trọng của Thẻ điểm cân bằng và Bản đồ chiến lược, Kaplan và Norton đã vẽ nên một công thức, hay đúng hơn là một phương trình giúp các doanh nghiệp thành công trong quản lý và giúp doanh 7 nghiệp có sự phát triển vượt trội. Thông qua Bản Đồ Chiến Lược, Kaplan và Norton đã trình bày về những mối liên kết còn thiếu giữa việc hoạch định và triển khai chiến lược, đồng thời đây cũng chính là cuốn cẩm nang mô tả, đo lường và kết nối các tài sản vô hình để có được hiệu quả hoạt động vượt trội. Richard Kiihn, Rudolf Griinig (2007) đưa ra các bước hoạch định chiến lược cụ thể, xây dựng các chiến lược có tính thực tế và rõ ràng để đem lại sự thành công lâu dài cho công ty. Các chiến lược vạch ra định hướng tương lai cho công ty, không chỉ xác định vị thế thị trường mục tiêu trong những năm tới mà còn xác định những lợi thế cạnh tranh chính yếu ở mức độ phối thức thị trường và nguồn lực.
Koji Mitani (2020) cho rằng: Lịch sử không bao giờ lặp lại nên nếu cứ “học tập lại những điều xảy ra trong lịch sử” là đồng nghĩa với việc đưa mình vào vòng nguy hiểm. Hơn nữa, có nhiều sự việc không xảy ra một cách ngẫu nhiên. Tuy nhiên, tất cả chúng ta thường không nhìn nhận rằng mọi thứ xảy ra theo tính tất yếu. Giá trị đích thực của việc học từ lịch sử là trong một tình huống sẽ xảy ra rất nhiều việc, sẽ có nhiều chiến lược có hiệu quả tương ứng với những tình huống đó.
Nghiên cứu của Koji Mitani giới thiệu những khái niệm chiến lược đã xuất hiện trong suốt 100 năm từ đầu thế kỷ 20 đến nay, cùng với nền tảng của chúng. Từ một chiến lược quản lý cổ điển được nhiều công ty Nhật Bản áp dụng, đến việc giới thiệu những chiến lược mới nhất được sinh ra trong môi trường kinh doanh thay đổi mạnh mẽ của thế kỷ 21, đã giúp độc giả có cái nhìn sâu sắc hơn về dòng chảy của lịch sử kinh doanh. Chiến lược kinh doanh là chọn một “thị trường có lợi nhuận” và có một “vị trí có lợi thế” ở thị trường đó (định vị). Trường phái định vị cho rằng nên tăng cường sự kết hợp giữa con người với tổ chức.
Để leo nên ngọn núi quản lý tốt nhất, doanh nghiệp nên chọn một ngọn núi thích hợp và tìm một con đường dễ leo. Yongfu Li, Yu Song, Jinxin Wang, Chengwei Li (2019) cho rằng kỷ nguyên kinh tế tri thức hiện nay là kỷ nguyên được thúc đẩy bởi sự đổi mới, chủ 8 yếu dựa trên đầu vào là tài sản vô hình có vai trò quyết định đối với sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Giá trị sản phẩm của doanh nghiệp phần lớn do vốn trí tuệ của họ quyết định. Do đó, với tư cách là trụ cột của nền kinh tế Trung Quốc, các doanh nghiệp xây dựng phải tăng cường đầu tư vào vốn trí tuệ và để đạt được khả năng cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp phải chia sẻ kiến thức với các thành viên khác trong mạng lưới của mình.
Đây là nghiên cứu của các tác giả Trung Quốc tuy nhiên cũng có thể áp dụng cho thực tiễn ở Việt Nam, đặc biệt với các doanh nghiệp đa quốc gia. Mohamed Rizal Mohamed, Mohammad Fadhil Mohammad, Rohana Mahbub, Mohd Adib Ramli, Sujatavani Gunasagaran, Siti Mariam Abdul Halim (2019) trình bày một số giải pháp chiến lược cho các công ty xây dựng vừa và nhỏ ở Malaisia, một quốc gia Đông Nam Á. Nghiên cứu đưa ra cách thức để các công ty xây dựng vừa và nhỏ có thể dần dần tham gia vào thị trường xây dựng công nghiệp. BA Salami, SO Ajayi, AS Oyegoke (2021) nghiên cứu những tác động của đại dịch Covid với lĩnh vực xây dựng.
Nghiên cứu chỉ ra rằng sự bùng phát của đại dịch Covid-19 đã thử thách khả năng phục hồi của ngành xây dựng, gây rủi ro cho sự an toàn của người lao động và toàn bộ doanh nghiệp. Nghiên cứu này khám phá các chiến lược khác nhau được các công ty xây dựng áp dụng để bảo vệ sức khỏe và phúc lợi của nhân viên, an ninh của các công trường, dự án, đồng thời duy trì hoạt động kinh doanh tổng thể trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Các nghiên cứu ở trong nước Hoàng Văn Hải (2015) cho rằng trong kinh doanh hiện đại, Sự thay đổi chứ không phải sự ổn định là chương trình làm việc hàng ngày. Sự thay đổi nhanh chóng trong công nghệ, mội trường cạnh tranh và những nhu cầu khách hàng đã buộc các công ty phải lựa chọn các chiến lược để tồn tại trong thị trường.
Đặc điểm kinh tế xã hội và văn hóa của Việt Nam đòi hỏi cách tiếp cận 9 có tính đặc thù về quản trị chiến lược. Vì vậy, trong khi các chiến lược gia phương tây chủ yếu chọn cách tiếp cận về lợi thế cạnh tranh để hình thành và triển khai chiến lược thì các doanh nghiệp Việt Nam nên dựa vào cách tiếp cận: "Lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh", "Dĩ đoản chế trường", "lấy nhu thắng cương". Giải pháp chiến lược chính là sản phẩm tư duy sắc sảo và khôn ngoan của các nhà quản trị chiến lược. Giải pháp chiến lược đúng sẽ khắc phục được chênh lệch về nguồn lực và giúp kẻ yếu vẫn có thể thắng được đối thủ mạnh.
Vì vậy, đầu tư cho việc tìm ra giải pháp chiến lược là một trong những đầu tư có tính quyết định nhất. Đào Duy Huân (2004) trình bày về chiến lược kinh doanh, các yếu tố môi trường tác động đến chiến lược, chiến lược kinh doanh trong thực tiễn. Cuối cùng là lựa chọn, thực thi và đánh giá chiến lược. Nguyễn Thị Liên Diệp (2006) đưa ra một số các phương án để thực thi chiến lược trong đó có các vấn đề về quản trị, marketing, tài chính, nghiên cứu và phát triển, hệ thống thông tin.
Nguyễn Ngọc Sơn (2010) cho rằng trong nền kinh tế thị trường, các vấn đề vi mô và vĩ mô đang ảnh hưởng rất lớn lên đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không tìm ra cho mình được chiến lược kinh doanh tốt thì rất khó để tìm được chỗ đứng trên thương trường.