Chương 1 đã giới thiệu công ty SGC kinh doanh lĩnh vực gì, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát về quy mô và mô hình hoạt động của công ty. Đồng thời nêu lên lý do đề tài này được thực hiện. 123doc 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận với các lý thuyết về chiến lược kinh doanh các cấp, lợi thế cạnh tranh, đánh giá sơ bộ của các yếu tố từ môi trường bên trong, bên ngoài ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ra sao? Môi trường vĩ mô, vi mô ảnh hưởng đến các công ty như thế nào và cách xây dựng, tác dụng của các ma trận IFE, EFE, CPM, SWOT, QSPM sẽ được sử dụng ở phần sau.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Theo Chandler (1962) chiến lược kinh doanh là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức hành động và phân bổ nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu đó. Porter (1996) chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo, bao gồm sự khác biệt hóa, sự lựa chọn mang tính đánh đổi, nhằm tập trung nhất các nguồn lực để từ đó tạo ra ưu thế cho tổ chức.
David (2006, trang 20) “Chiến lược là những phương tiện đạt đến những mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể bao gồm: sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, hình thức sở hữu, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý, liên doanh…”. Như vậy ta hiểu chiến lược là việc đưa ra quyết định sử dụng các nguồn lực hạn hữu để tập trung cho các mục tiêu cụ thể, rõ ràng, có thể đạt được và cách thức thực hiện chúng. Sự lựa chọn đó có thể mang tính đánh đổi giữa các mục tiêu để đạt được mục tiêu trong dài hạn.2 Phân loại chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 2.1 Phân theo cấp độ quản lý Theo Nguyễn Hữu Lam và cộng sự (2011) gồm 3 cấp độ quản lý: Chiến lược cấp công ty, chiến lược cấp kinh doanh và chiến lược cấp chức năng.1 Chiến lược cấp công ty Chiến lược cấp công ty gồm 4 giai đoạn chính: Giai đoạn 1: Công ty tập trung kinh doanh một lĩnh vực nào đó trong thị trường nội địa.
Có 3 phương án cho chiến lược tăng trưởng tập trung: xâm nhập thị trường, phát triển thị trường và phát triển sản phẩm; Giai đoạn 2: Để củng cố và duy trì vị thế cạnh tranh, công ty có thể thực hiện hội nhập dọc hoặc mở rộng thị trường ra bên ngoài, toàn cầu hóa hoạt động; Giai đoạn 3: Thực hiện đa dạng hóa, mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực kinh doanh mới; Giai đoạn 4: Chiến lược cắt giảm.2 Chiến lược cấp kinh doanh Chiến lược cấp kinh doanh được tạo nên từ sự kết hợp của 3 yếu tố nền tảng: Nhu cầu khách hàng – Thị trường mục tiêu – Năng lực phân biệt. Nhu cầu khách hàng là những mong muốn của khách hàng có thể được thỏa mãn bởi những đặc tính nào đó của sản phẩm hoặc sở thích của họ. Thị trường mục tiêu hay phân khúc thị trường là cách thức mà công ty chia khách hàng thành từng nhóm khác nhau, dựa trên nhu cầu hoặc sở thích của họ. Có 3 phân khúc chính: 1.
Có thể xem toàn bộ khách hàng đều có nhu cầu ở một mức trung bình nào đó. Chia thành những nhóm khách hàng khác nhau và có sản phẩm tương ứng với từng nhóm khách hàng. Chỉ chọn một nhóm khách hàng để phục vụ. Năng lực phân biệt là phương cách mà công ty sử dụng để thỏa mãn nhu cầu khách hàng nhằm đạt lợi thế cạnh tranh như tạo ra lợi thế về quy mô, chi phí thấp, khác biệt hóa.
Từ phân tích sự kết hợp của 3 yếu tố nền tảng để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho công ty, và được thể hiện qua 2 hình thức cơ bản: chi phí thấp và khác biệt hóa. Kết hợp 2 hình thức cơ bản này với phạm vi hoạt động của công ty hình thành nên 3 chiến lược kinh doanh tổng quát: chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung. Chiến lược tập trung lại có 2 phương thức: tập trung theo hướng chi phí thấp và tập trung theo hướng khác biệt hóa.3 Chiến lược cấp chức năng Chiến lược cấp chức năng được sử dụng nhằm xây dựng và phát huy năng lực các phòng ban vận hành hiệu quả một cách tối đa. Chiến lược còn liên kết, phối hợp các phòng ban một cách nhịp nhàng.
Các phòng ban có thể kết hợp ăn ý, tránh tình trạng đùn đẩy công việc, tắc nghẽn ở một phòng ban, giai đoạn nào đó làm chậm tiến độ sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng uy tín của công ty. Chiến lược cấp chức năng sẽ tạo nên năng lực phân biệt, giúp công ty đạt lợi thế cạnh tranh.2 Phân loại theo chức năng chiến lược Theo Fred R. David (2006) chiến lược kinh doanh được phân thành 4 nhóm: 2.1 Nhóm chiến lược kết hợp - Kết hợp về phía trước nhằm tăng quyền sở hữu hoặc kiểm soát các nhà phân phối hoặc bán lẻ. - Kết hợp phía sau nhằm tìm kiếm quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát các nhà cung cấp của công ty, giảm chi phí cung cấp nguồn cung đầu vào.
- Kết hợp theo chiều ngang nhằm tìm kiếm quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối với các đối thủ cạnh tranh của công ty, mở rộng phạm vi kinh doanh.2 Nhóm chiến lược chuyên sâu - Thâm nhập thị trường nhằm làm tăng tăng thị phần ở các thị trường hiện tại. Công ty tiếp tục cung cấp các sản phẩm, dịch vụ hiện có vào thị trường hiện tại bằng những nổ lực tiếp thị lớn. - Phát triển thị trường nhằm đưa những sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có vào thị trường mới. - Phát triển sản phẩm nhằm làm tăng doanh thu bằng việc cải tiến những sản phẩm, dịch vụ hiện có.3 Nhóm chiến lược mở rộng - Đa dạng hóa hoạt động đồng tâm: Đưa vào thị trường hiện tại những sản phẩm, dịch vụ mới có liên quan đến sản phẩm, dịch vụ hiện có.
123doc 10 - Đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang: Đưa vào thị trường hiện tại những sản phẩm, dịch vụ mới không liên quan đến sản phẩm, dịch vụ hiện có cho khách hàng hiện tại của doanh nghiệp. - Đa dạng hóa hoạt động kiểu hỗn hợp: Đưa vào thị trường hiện tại những sản phẩm, dịch vụ mới không liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp.4 Nhóm chiến lược khác - Liên doanh: hai hay nhiều công ty cùng hợp tác, nhằm khai thác một cơ hội nào đó. - Thu hẹp được công ty thực hiện nhằm tổ chức lại hoạt động bằng việc cắt giảm chi phí, tài sản khi doanh thu và lợi nhuận đang sụt giảm. - Cắt bỏ: bán đi một bộ phận hoặc một phần của công ty.
- Thanh lý là việc công ty chấp nhận thất bại, bắt đầu bán từng phần một của công ty đến khi hết và bằng chính giá thực.3 Môi trường kinh doanh của công ty Khi thiết lập chiến lược kinh doanh cho công ty, nhà quản trị cần quan sát, tìm hiểu và phân tích môi trường, các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của công ty. Những phân tích, nhận định về môi trường tổng quát, môi trường ngành sẽ giúp công ty thấy được những khó khăn, thách thức và những cơ hội để có thể phòng ngừa rủi ro, dự đoán được hướng đi phù hợp trong thời gian tới. Môi trường bên trong cũng không thể thiếu khi phân tích môi trường kinh doanh, giúp doanh nghiệp nhận định được điểm mạnh và yếu từ chính nội bộ doanh nghiệp.1 Môi trường bên ngoài doanh nghiệp 2.1 Môi trường vĩ mô Theo Nguyễn Hữu Lam và cộng sự (2011) môi trường vĩ mô ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tùy theo ngành nghề kinh doanh của công ty mà các yếu tố có mức ảnh hưởng khác nhau. 123doc 11 Yếu tố kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế thể hiện qua tỉ lệ tăng trưởng GDP, hay GNP có thể thấy được tổng quan nền kinh tế của một quốc gia giàu có hay nền kinh tế chưa phát triển, từ đó sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn nên đầu tư hay không, hoặc nếu muốn đầu tư thì nên đầu tư ngành hàng nào.
Lãi suất và xu hướng của lãi suất trong nền kinh tế. Yếu tố này có ảnh hưởng tới xu thế tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư, ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Lãi suất ngân hàng sẽ quyết định khả năng đầu tư, sản xuất trong nước, cùng với việc nổ lực giảm lãi suất, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của chính phủ. Một đất nước giữ được một mức lãi suất thấp sẽ khuyến khích tình hình sản xuất kinh doanh trong nước.
Xu hướng của tỷ giá hối đối liên quan đến tình hình nhập khẩu, giá cả máy móc, trang thiết bị. Khi tỷ giá trong nước cao hơn nước ngoài, sẽ giúp chúng ta mua được hàng hóa nước ngoài với giá rẻ hơn, và các nhà đầu tư sẽ đầu tư dòng tiền vào trong nước, làm cho dòng tiền trong nước tăng lên. Tuy nhiên, việc chúng ta xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài lại đắt hơn sẽ làm giảm sức nhập khẩu từ ngoài nước. Mức độ lạm phát: ảnh hưởng đến khả năng đầu tư nguồn vốn nước ngoài vào trong nước, mang lại rủi ro cao cho nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng nặng nề.
Một quốc gia có tỉ lệ lạm phát cao được cho là có nền kinh tế thiếu tính ổn định. Vì vậy doanh nghiệp trong nước e ngại đầu tư mở rộng, các doanh nghiệp nước ngoài cũng có hướng đánh giá thấp về tình hình nền kinh tế. Các hoạt động thu hút FDI, ODA. Đây là nguồn vốn từ nước ngoài, đầu tư vào Việt Nam, đóng vai trò lớn đối với một nước đang phát triển như Việt Nam.
Nguồn vốn các công ty nước ngoài đầu tư vào trong nước (FDI) giúp giải quyết một số lượng lớn lao động trong độ tuổi làm việc ở Việt Nam, góp phần phát triển nền kinh tế của đất nước. Nguồn vốn ODA giúp nhà nước thực hiện các công trình công ích, xây dựng cầu đường, kiến trúc hạ tầng phục vụ các hoạt động kinh tế trong nước, đồng thời việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng góp phần thu hút nguồn vốn từ nước ngoài.