Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm chiến lược và chiến lược kinh doanh 1.
Khái niệm chiến lược Trong kinh tế thị trường, khi cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải đặc biệt quan tâm đầu tư cho công tác quản lý. Quản lý doanh nghiệp bao gồm quản lý chiến lược và quản lý điều hành. Trong đó, quản lý chiến lược gồm có hoạch định chiến lược, thẩm định – quyết định lựa chọn chiến lược và chỉ đạo thực hiện chiến lược. Trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, việc kinh doanh phải chú trọng cạnh tranh quản lý chiến lược, trong đó hoạch định chiến lược có vai trò đặc biệt quan trọng.
Hoạch định chiến lược kinh doanh là quá trình nghiên cứu luận chứng, chiến lược kinh doanh là kết quả của quá trình đó. - Michael Porter (2015) cho rằng: “Chiến lược là nghệ thuật tạo ra lợi thế cạnh tranh”. - Alain Thretar lại cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để ứng phó với cạnh tranh nhằm giành thắng lợi”. - Theo Genral Aileret (2010): “Chiến lược là kết quả hoạch định mục tiêu, phương cách và phương tiện tổng quát”.
- Theo Alfred Chandler: “Chiến lược hoạt động của doanh nghiệp là kết quả hoạch định mục tiêu tổng quát, hướng – phương cách hoạt động và các nguồn lực chủ yếu sẽ huy động sử dụng”. - Theo Đỗ Văn Phức (2013): “chiến lược hoạt động của doanh nghiệp là kết quả xác định mục tiêu chiến lược, các cặp sản phẩm - khách hàng chiến lược và các nguồn lực chiến lược nhằm giành lợi thế cạnh tranh”. - Theo Ngô Kim Thanh (2014): “chiến lược còn được hiểu là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng như kế hoạch chủ yếu để đạt được các mục 12 tiêu đó, nó cho thấy doanh nghiệp đang hoặc sẽ thực hiện các hoạt động kinh doanh gì, và doanh nghiệp đang hoặc sẽ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh nào”. Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu chiến lược là tập hợp những quyết định và hành động có liên quan chặt chẽ với nhau để sử dụng hiệu quả các năng lực và nguồn lực của tổ chức nhằm hướng tới các mục tiêu mong muốn.
Khái niệm chiến lược kinh doanh Chandler là người đầu tiên đưa ra khái niệm chiến lược kinh doanh, tuy nhiên sau này Quinn (2010) đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn như sau: “Chiến lược kinh doanh là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ”. Chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp. Chiến lược là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng như các kế hoạch chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó, nó cho thấy rõ công ty đang hoặc sẽ thực hiện các hoạt động kinh doanh gì, thuộc vào lĩnh vực kinh doanh nào. Vai trò của chiến lược Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế có sự cạnh tranh gay gắt, một DN SXKD muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh hợp lý.
Chiến lược có vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, biểu hiện cụ thể như sau: Trước hết, Chiến lược góp phần cải thiện lợi thế cạnh tranh của tổ chức nhờ vào việc cập nhật và đổi mới, duy trì sự ổn định, cải thiện hiệu quả các hoạt động của tổ chức. Đồng thời, chiến lược kinh doanh giúp cho DN thấy rõ mục đích, hướng đi của mình trong tương lai và làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của DN. Chiến lược kinh doanh giúp cho DN có thể phân tích, đánh giá và dự báo được những cơ hội, thời cơ và những nguy cơ có thể xảy ra; nhận thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của DN mình. Từ đó, giúp cho DN đưa ra các quyết định phù hợp, đúng đắn với những biến đổi của thị trường nhằm đảm bảo hoạt động SXKD phát triển, hiệu quả.
13 Chiến lược kinh doanh còn giúp cho các nhà quản trị DN phát huy những thế mạnh, cân đối sử dụng hiệu quả các nguồn lực và phân bổ chúng một cách hợp lý. Đồng thời giúp cho DN tăng cường vị thế trên thương trường để đảm bảo DN phát triển liên tục và bền vững. Chiến lược kinh doanh tạo ra cho DN các căn cứ vững chắc cho những hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tư phát triển đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, hoạt động mở rộng thị trường và phát triển sản phẩm. Cuối cùng, Chiến lược giúp nhà quản trị phát hiện cơ hội, lường trước và né tránh các bất trắc trong tương lai, vạch ra các hành động một cách hữu hiệu và nhận thức rõ các hiện tượng không chắc chắn và những rủi ro trong quá trình hoạt động của tổ chức.
Các cấp chiến lược trong doanh nghiệp Dựa vào quy mô của tổ chức kinh doanh, chiến lược được chia thành các cấp: 1. Chiến lược cấp Công ty Chiến lược cấp công ty là chiến lược chung, chiến lược chủ đạo của DN; Chiến lược cấp Công ty xác định các hành vi mà Công ty thực hiện nhằm giành lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị một nhóm các hoạt động kinh doanh khác nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trường sản phẩm; Chiến lược cấp Công ty hiệu quả có thể giúp Công ty đạt được thu nhập trên trung bình bằng việc sáng tạo giá trị. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh (cấp đơn vị kinh doanh-SBU) Khái niệm về chiến lược kinh doanh: Có rất nhiều định nghĩa về chiến lược kinh doanh. - Theo Đỗ Văn Phức (2013): “Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là tổng thể các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường sản phẩm cụ thể”.
- Theo Lê Thế Giới (2019): Chỉ có các doanh nghiệp liên tục nâng cấp các lợi thế cạnh tranh của mình theo thời gian mới có khả năng đạt được những thành công lâu dài với chiến lược cấp đơn vị kinh doanh. Điều cốt yếu của chiến lược 14 kinh doanh là “lựa chọn thực hiện các hành động tạo sự khác biệt hay là thực hiện các hoạt động khác hơn so với đối thủ”. - Theo luận điểm của Derek F.Abell về quá trình ra quyết định, để xây dựng chiến lược cấp đơn vị kinh doanh phải bao gồm 03 yếu tố. Đó là nhu cầu khách hàng, hay điều gì được thỏa mãn (what), các nhóm khách hàng, hay ai được thỏa mãn (who), và các khả năng khác biệt hóa, hay cách thức mà nhu cầu khách hàng được thỏa mãn (how).
Ba yếu tố quyết định này xác định cách thức mà một Công ty sẽ cạnh tranh trong một hoạt động kinh doanh hay một ngành. Các loại chiến lược cấp đơn vị kinh doanh Căn cứ vào tính chất tập trung của chiến lược có thể phân biệt các chiến lượt cấp đơn vị kinh doanh thành chiến lược dẫn đạo về chi phí thấp, chiến lượt khác biệt hóa sản phẩm và chiến lược tập trung. Chiến lược dẫn đạo chi phí Theo Lê Thế Giới (2019) Chiến lược dẫn đạo chi phí là tổng thể các hành động nhằm cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ có các đặc tính được khách hàng chấp nhận với chi phí thấp nhất trong mối quan hệ với tất cả các đối thủ cạnh tranh. Chiến lược này thích hợp với những doanh nghiệp có qui mô lớn, có khả năng giảm chi phí trong các quá trình hoạt động.
Mục đích của doanh nghiệp đang theo đuổi chiến lược dẫn đạo chi phí là làm tốt hơn các đối thủ cạnh tranh, sao cho chi phí để sản xuất và cung cấp mọi sản phẩm hay dịch vụ mà nó cỏ thể làm đều với thấp hơn đối thủ. - Các giải pháp chủ yếu của chiến lược dẫn đầu về chi phí thấp + Doanh nghiệp dẫn đạo về chi phí thấp có thể lựa chọn mức khác biệt hóa sản phẩm thấp nhưng không quá thấp hơn so với mức của doanh nghiệp theo đuổi chiến lược khác biệt hóa (tức là doanh nghiệp cạnh tranh bằng cách đầu tư các nguồn lực vào việc phát triển sản phẩm). + Doanh nghiệp dẫn đạo chi phí không cố gắng trở thành người dẫn đạo ngành bằng cách tạo sự khác biệt; họ chờ cho đến khi các khách hàng có mong muốn một đặc tính hay dịch vụ. 15 + Doanh nghiệp dẫn đạo chi phí cũng thường ít để ý đến các phân đoạn thị trường khác nhau và định vị sản phẩm của mình để lôi cuốn khách hàng bình thường.
Để đạt được vị thế về chi phí thấp, doanh nghiệp có thể phát triển các kỹ năng chế tạo linh hoạt và áp dụng kỹ thuật quản trị vật liệu hiệu quả. Do đó, các chức năng quản trị vật liệu và chế tạo là trung tâm chú ý của một Công ty đang theo đuổi chiến lược dẫn đạo chi phí, các chức năng khác cần định hướng khả năng sáng tạo khác biệt của nó để đáp ứng yêu cầu của quản trị vật liệu và chế tạo. Chức năng quản trị nguồn nhân lực có thể tập trung vào việc tạo lập các chương trình huấn luyện và hệ thống thù lao sao cho có thể hạ thấp chi phí bằng việc nâng cao năng suất lao động. Chức năng nghiên cứu phát triển có thể chuyên môn hóa hướng vào hoàn thiện quá trình, hạ thấp chi phí chế tạo.
- Công ty dẫn đạo chi phí có các lợi thế sau + Với các đối thủ cạnh tranh trong ngành: Doanh nghiệp dẫn đạo chi phí có một vị thế chi phí đáng giá để phòng thủ trước các đối thủ cạnh tranh. Các đối thủ cạnh tranh rất sợ phải cạnh tranh với người dẫn đạo chi phí bằng giá, bởi họ có lợi thế hơn hẳn về chi phí. Doanh nghiệp dẫn đạo chi phí thu được lợi nhuận tối thiểu sau khi các đối thủ cạnh tranh của nó đã bị thiệt hại đáng kể qua cạnh tranh. + Với các năng lực thương lượng của nhà cung cấp: Người dẫn đạo chi phí với lợi thế chi phí thấp cũng có nghĩa là họ sẽ ít bị tác đông bởi sự tăng giá các đầu vào so với các đối thủ cạnh tranh trong trường hợp có các nhà cung cấp đầy quyền lực.