chương 1; (3) Edyta Sokalska (2015), The concepts of the local self- government in Poland in the first years of regaining independence, Studia Prawnoustrojowe 28, UWM; (4) Thomas Linzey, Daniel E. Brannen Jr va Elizabeth Dunne (2015), The people’s r ght of loc l, commun ty self go ernment, The community Environmental Legal Defense Fund, (mục A, phần I); (5) Tasneem Sikander (2015), A Theoretical Framework of Local Government, International Journal of Humanities and Social Science, Vol. Thứ tư, tính ph nh nư c của ch ộ tự quản ị phương. Về vấn đề nay, hiện có hai quan điểm khác nhau: Qu n ểm 1: khẳng định chế độ TQĐP mang tính quyền lực nhà nước, là sự tiếp nối của quản lý nhà nước.
Quan điểm này được khẳng định bởi tác giả: Norbert Kersting, Angelika Vetter (2003), Reforming Local Government in Europe_ Closing the Gap between Democracy and efficiency, Springer Fachmedien Wiesbaden GmbH. Qu n ểm 2: là quan điểm có cơ sở lý luận và được chấp nhận hơn so với quan điểm 1. Quan điểm này khẳng định chế độ TQĐP không mang tính quyền lực nhà nước, không là sự tiếp nối của quản lý nhà nước. Tác giả nổi bật có quan điểm này là: Miroslav Kobasa (2012), Local self – government in Balarus: How to shift myth to reality, school of young managers in public administration, Minsk.
Thứ năm, các ặc trưng của tự quản ị phương: Một, đặc trưng về tính độc lập, các ĐP có sự độc lập trong việc quyết định các vấn đề có tính chất ĐP. Mối quan hệ giữa chính quyền TQĐP và chính quyền TƯ là mối quan hệ độc lập, tương hỗ, chỉ có tính hành chính trong một số trường hợp nhất định. Có các công trình như: (1) Rodney L. Mott (1949), Home rule for Amer c ’s t es, American Municipal Associate; (2) Marko Kambic (2008), Self-government and Autonomy of luan an 9 Statutory Municipalities in the Light of Historical Sources for the Provincial Capital of Ljubljana, Lexlocalis – Journal of local self government, vol.4; (3) Núria Bosch and José M.
Durán (2008), Fiscal Federalism and Political Decentralization: Lesson from Spain, Germany and Canada, Edward Elgar Publishing Limited; Hai, QĐP tự quản ược thành lập v i hai chức năng cơ bản là chức năng chính trị và chức năng công cộng. Chức năng chính trị đòi hỏi chính quyền TQĐP là nơi thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, chức năng công cộng đòi hỏi chính quyền TQĐP là nơi cung ứng tốt nhất các dịch vụ tốt nhất cho người dân. Các công trình sau có thề hiện nội dung này: (1) Harold Joseph Laski, W. Ivor Jennings, Elie Halévy, Sir Ivor Jennings, William Alexander Robson (1978), A Century of Municipal Progress 1835 – 1935, Greenwood Press; (2) David J.
McCathy, Laurie Reynolds (2003), Local government law – in a nutshell, Thomson west Ba, ặc trưng về tổ chức bộ máy chính quyền TQĐP. Theo (1) Walter Roy Huber (1997), California State and Local Goverment in Crisis, Educational Textbook, 3rd edition, tr. McCathy, Laurie Reynolds (2003), Local government law – in a nutshell, Thomson west thì các ĐP tự quản có bộ máy riêng không nằm trong cơ cấu tổ chức bộ máy nh nư c. Bốn, đặc trưng về chế độ tài chính: Theo các tác giả: (1) Nico Steytler, The play and role of local government in federal system, Konrad-Adenauer-Stiftung; (2) The World Bank Eastern Europe and Central Asia (2003), Local Self-Government and Civic Engagement in Rural Russia, World bank; (3) UnHabitat (2009), Guide to Municipal Finance, United Nations Human Settlements Programme; (4) Zhou Gideon& Chilunjika Alouis (2013), The Challenges of Self-Financing in Local Authorities The Case of Zimbabwe, International Journal of Humanities and Social Science, Vol.
11; June thì các cộng ồng TQĐP có t sản riêng, ngân sách riêng, hạch toán ộc lập. Năm, trách nhiệm ộc lập của chính quyền TQĐP. McCathy, Laurie Reynolds (2003), Local government law – in a nutshell, Thomson west thì chính quyền TQĐP có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm độc lập trước nhân dân ĐP về các quyết định của mình. Thứ sáu, vấn ề ổi m i QĐP theo mô hình tự quản: Từ đặc trưng của chế độ TQĐP, nhiều tác giả đã đưa ra những khuyến nghị cho công cuộc cải cách CQĐP ở các quốc gia theo chế độ tự quản.
Một số khuyến nghị đáng chú ý được nêu như: (1) K. Bell (1996), Local self-government in Central and Eastern Europe: Decentralization or Deconcentration, Environment and Planning, luan an 10 Government and Policy, Vol.15; (2) Fred Lazin (2013), Local government Reforms in Eastern Europe after the collapse of the Xoviet Union: Some Observation, Europeanization of Public Administration and Policy: Sharing Values, Norm and practices 4/ 2013, Croaria. Cả hai tác phẩm đều nêu quan điểm về cải cách CQĐP ở Trung và Đông Âu và các nước mới độc lập thuộc Liên Xô cũ rằng: cải cách CQĐP theo hướng tự quản là hành trình dân chủ tất yếu nhưng không như nhau ở các quốc gia sau cải tổ vì nó phụ thuộc vào tình hình thực tế tại mỗi nhà nước, mỗi quốc gia nên có một phương thức riêng. (3) Shinichi Ichimura và Roy Bahl (2009), Decentralization Policies in asian Development, World Scientific Publishing Co.
Tác giả khuyến nghị những quốc gia có thời gian dài áp dụng chế độ tập trung đặc thù của Châu Á thì vấn đề đổi mới CQĐP không nên đi từ chính trị mà đi từ góc độ phát triển kinh tế và xã hội dân sự. (4) Phan Thị Lan Hương (2012), Luận án tiến sĩ, “Reform ng loc l go ernment n V etN m, lesson le rned from J p n”, Nagoya University. Luận án đề xuất những kiến nghị cho việc đổi mới CQĐP Việt Nam theo mô hình tự quản trên cơ sở tiếp thu một số ưu điểm phù hợp của chế độ TQĐP Nhật Bản. Về vai trò và hạn chế của chế độ tự quản địa phương Thứ nhất, về vai trò của TQĐP Chế độ TQĐP có những ưu điểm so với mô hình CQĐP truyền thống.
Hầu như các tác giả đều đánh giá cao vai trò của chính quyền TQĐP ở hai nội dung thiết yếu là: chính trị (dân chủ) và kinh tế (dịch vụ công cộng). Một số công trình có đề cập vấn đề này: (1) Norbert Kersting, Angelika Vetter (2003), Reforming Local Government in Europe_ Closing the Gap between Democracy and efficiency, Springer Fachmedien Wiesbaden GmbH; (2) Howard Elcock (2005), Local government - Policy and management in local authorities, published in the Taylor & Francis e-Library, chương 5, phần III: cả hai tác phẩm này đếu cho rằng chính quyền TQĐP bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của người dân và cung cấp các dịch vụ theo một cách thích hợp tại ĐP. Zahid Sobaci, Mustafa Okmen (2008), The evalution of restructured local government in Turkey within the context of the european charter on local self government, Ankara Law Review, Vol. Các giá trị cơ bản của chính quyền TQĐP có thể được thể hiện bởi các khái niệm về tự do, bình đẳng và phúc lợi.
(4) Jerzy Regulski, Jacek Drozda (2015), Building local government - Lessons of experience from the Polish transition, International Bank for Reconstruction and Development / The World Bank: về vấn đề này, tác giả khẳng định: không thể có một nền dân chủ thực thụ nếu không áp dụng chế độ TQĐP. luan an 11 Thứ hai, mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng chính quyền TQĐP vẫn có hạn chế nhất định. Mccarthy, JR, Laurie Reynolds (2003), Local government law – in a nutshell, Thomson west thì TQĐP có thể là một trong những nguyên cớ dẫn đến sự bất bình đẵng giữa các ĐP, tình trạng cục bộ ĐP, hoặc có thể tạo ra những mâu thuẩn tạm thời giữa lợi ích cục bộ ĐP và lợi ích quốc gia…. Về mô hình chính quyền tự quản địa phương ở nông thôn và đô thị 1.
Ch ộ tự quản ị phương vùng nông thôn Thứ nhất, về sự ra đời chế độ TQĐP ở vùng nông thôn. Hefetz (2003), Rural and urban differences in privatization: limits to the competitive state, Environment and Planning C: Government and Policy, vol.Taufiqul Islam, Koichi Fujita (2012), Dimension of Decentralization Process and Rural Local Government in India: A Comparison with Bangladesh, Kyoto University Published, Kyoto thì đó là nhằm bảo đảm sự phát triển vùng nông thôn ở khía cạnh kinh tế và chính trị, cụ thể hơn, đó là sự phát triển bền vững, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Thứ hai, đặc trưng của mô hình chính quyền TQĐP vùng nông thôn. Các tác giả như: (1) The World Bank Eastern Europe and Central Asia (2003), Local Self- Government and Civic Engagement in Rural Russia, World bank; (2) Eyong Evelyn Manyi (2007), Thesis “Local Governments and Rural Development: A Case Study of Buea in Cameroon”, University of Oslo; (3) Taufiqul Islam (2014), Decentralization and rural local government in India and Bangladesh: A brief comparision, J.
02 thì so với đô thị TQĐP ở vùng nông thôn có thể hình thành theo nguyên tắc phân quyền hoặc theo nguyên tắc phân quyền kết hợp với tản quyền; ngoài ra có thêm các đặc trưng khác về: nguồn tài chính, chức năng, tổ chức bộ máy… 1. Ch ộ tự quản ị phương ùng ô thị Thứ nhất, về sự ra đời chế độ tự quản đô thị. Theo quan điểm của các tác giả: (1) Diane Lang (1991), D llon’s rule nd the b rth of home rule, The municipal Reporter, December, 1991; (2) S. Grindle (2007), Going Local, decentralization democration, and the promise of good governance, Princeton University Press Published; (4) Tasneem Sikander (2015), A Theoretical Framework of Local Government, International Journal of Humanities and Social Science, Vol.
6 thì tự quản đô thị hình thành do nhu cầu luan an 12 dịch vụ công, về dân chủ, về tự do, về văn minh và sự thịnh vượng. Nó được hình thành và phát triển từ chế độ tự trị của các thành bang thời cổ đại và đánh dấu những cột mốc phát triển với cách mạng công nghiệp, cách mạng tư sản Pháp. Thứ hai, những nội dung liên quan đến đặc trưng của mô hình tự quản đô thị như: cơ sở pháp lý thành lập, tính độc lập, bộ máy, chức năng, vấn đề tài chính được đề cập trong một số tác phẩm điển hình như: (1) Rodney L. Reynolda (2008), Handbook of local government; (4) Zhou Gideon& Chilunjika Alouis (2013), The Challenges of Self-Financing in Local Authorities The Case of Zimbabwe, International Journal of Humanities and Social Science, Vol.
Về nguyên tắc, nội dung, phạm vi của chế độ tự quản địa phương Thứ nhất, về nguyên tắc của chế độ tự quản địa phương Nguyên tắc TQĐP là một nội dung pháp lý chứ không phải lý luận. Hiện tại, không có một tiêu chuẩn hay nguyên tắc mang tính toàn cầu về TQĐP, ngay cả Hiến Chương châu Âu về TQĐP và Hướng dẫn quốc tế về phân quyền và tăng cường quyền lực ĐP của Liên Hợp Quốc (UN-Habitat) cũng chỉ cố gắng đưa ra nguyên tắc khung về TQĐP. Theo đó, nguyên tắc TQĐP ở mỗi quốc gia là khác nhau và được quy định trong hiến pháp hoặc luật.