phần mở đầu và kết luận, các hình, bảng biểu., phần nội dung chính của luận văn bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tín dụng và chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội. 6 CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo Lê Văn Tề (2009), tín dụng (Credit) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh – Credittum- tức là sự tin tƣởng, tín nhiệm hoặc là sự tin tƣởng hoặc tín nhiệm đó, hoặc vay mƣợn sự tin tƣởng hoặc tín nhiệm đó để thực hiện các quan hệ vay mƣợn một lƣợng giá trị vật chất hoặc tiền tệ trong một thời gian.[5] Có nhiều loại hình tín dụng từ trƣớc đến nay trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, căn cứ theo chủ thể trong mối quan hệ tín dụng giữa hai bên có thể chia ra làm 3 nhóm: Tín dụng thƣơng mại: là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp dƣới hình thức mua bán chịu. Tín dụng ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ thể trong nền kinh tế nhƣ cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp. Tín dụng nhà nƣớc: là quan hệ tín dụng giữa nhà nƣớc với các chủ thể còn lại của nền kinh tế và nhà nƣớc là ngƣời đi vay. Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế.
Theo Bùi Diệu Anh (2009), tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, các nhân và các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.[2] Tín dụng ngân hàng tồn tại một số đặc trƣng cơ bản sau: 7 Tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng đa dạng, có thể dưới dạng tiền tệ, tài sản thực hoặc chữ ký. Nếu xem xét ở khía cạnh hình thái giá trị tín dụng, có thể thấy trong các loại hình tín dụng khác nhau, tài sản giao dich thƣờng là tiền tệ hoặc dƣới dạng hàng hóa. Tuy nhiên với ngân hàng thì khác, tín dụng ngân hàng có thể thông qua hình thái tiền tệ, tài sản thực hoặc bằng chữ ký. Rủi ro trong tín dụng ngân hàng có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn.
Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi một trong hai yếu tố: khả năng trả nợ và/hoặc thiện chí trả nợ không đƣợc hình thành đầy đủ. Thực chất của các giao dịch tín dụng là dựa trên cơ sở của lòng tin, cho nên khả năng phá vỡ cam kết của khách hàng đối với ngân hàng luôn luôn có thể xảy ra, do biến cố rủi ro khách quan ngoài tầm kiểm soát của cả ngân hàng lẫn khách hàng hoặc thiện chí trả nợ của khách hàng không đảm bảo. Cho nên, ngân hàng không thể loại trừ, triệt tiêu hoàn toàn rủi ro tín dụng, chỉ có thể kiểm soát, hạn chế rủi ro tín dụng ở mức thấp nhất. Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng.
Sự khác biệt giữa tín dụng và những giao dịch khác chính là ở sự hoàn trả. Tuy nhiên trong tín dụng ngân hàng thì sự hoàn trả cực kỳ quan trọng do bản chất hoạt động ngân hàng là đi vay để cho vay, nếu không có hoàn trả sẽ không tiếp tục kinh doanh đƣợc. Do đó, để đảm bảo hoàn trả đƣơc đầy đủ cả gốc và lãi, khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng ngân hàng phải cân nhắc 2 yếu tố cơ bản sau đây: - Xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng phải hợp lý. - Chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và đƣợc nền kinh tế chấp nhận.
Về nguyên tắc, lãi suất tín dụng phải bù đắp đƣợc các chi phí ngân hàng bỏ ra cho việc huy động nguồn tiền cho vay, các chi phí thực hiện các khoản tín dụng, rủi ro tín dụng… và tạo lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, tín dụng không 8 chỉ nhằm tạo ra lợi nhuận cho bản thân ngân hàng, mà quan trọng hơn, tín dụng còn là đòn bẩy phát triển kinh tế. Sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện. Quá trình cấp tín dụng diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý nhƣ hợp đồng tín dụng, khế ƣớc nhận nợ…đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn.
Đây chính là ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình sử dụng tín dụng ngân hàng. Phân loại hoạt động tín dụng của NHTM Có rất nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng. Theo Trầm Thị Xuân Hƣơng (2012), ngƣời ta dựa vào các tiêu thức nhƣ: thời gian, mục đích, đối tƣợng, phƣơng thức cấp tín dụng và hình thức bảo đảm để phân loại tín dụng.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng Nếu căn cứ vào thời hạn tín dụng chia tín dụng ra làm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và tín dụng dài hạn. Tín dụng ngắn hạn là khoản tín dụng có thời hạn tối đa 01 (một) năm.
Vốn vay ngắn hạn thƣờng đƣợc sử dụng để phát triển sản xuất, kinh doanh có chu kỳ luân chuyển vốn ngắn; hoặc đƣợc sử dụng đầu tƣ vào dịch vụ và tiêu dùng của dân cƣ. Đây là loại hình tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì trong một thời gian ngắn ít có những biến động xảy ra và ngân hàng thƣờng luôn dự tính đƣợc những biến động đó. Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm. Vốn vay trung hạn thƣờng đƣợc sử dụng để thực hiện các dự án đầu tƣ, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống có chu kỳ luân chuyển vốn trung hạn.
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 05 (năm) năm trở lên. Vốn vay dài hạn thƣờng đƣợc sử dụng để thực hiện các dự án đầu tƣ, phát triển sản xuất, kinh doanh, dich vụ và đời sống có chu kỳ luân chuyển vốn dài hạn. Loại tín dụng 9 này thƣờng có mức độ rủi ro lớn do khó lƣờng trƣớc đƣợc những biến động có thể xảy ra. Căn cứ vào mục đích tín dụng Căn cứ theo tiêu thức này ngƣời ta chia tín dụng thành hai loại: Tín dụng sản xuất kinh doanh là loại tín dụng mà vốn vay đƣợc khách hàng sử dụng để bổ sung vốn cho nhu cầu mua sắm, xây dựng tài sản cố định; bổ sung vốn lƣu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh… Tín dụng tiêu dùng là loại tín dụng để đáp ứng nhu cầu mua sắm nhà cửa, các vật dụng tiêu dùng và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thƣờng của đời sống.
Căn cứ vào đối tƣợng tín dụng Nếu căn cứ vào đối tƣợng tín dụng chia tín dụng ra làm hai loại là tín dụng doanh nghiệp và tín dụng cá nhân. Tín dụng doanh nghiệp là loại tín dụng áp dụng cho đối tƣợng khách hàng là các tổ chức kinh tế. Tín dụng cá nhân là loại tín dụng áp dụng cho đối tƣợng khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.4 Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng Theo luật các tổ chức tín dụng 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, căn cứ theo tiêu thức này có thể chia tín dụng thành các loại nhƣ sau: Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. 10 Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lƣu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhƣợng, giấy tờ có giá khác của ngƣời thụ hƣởng trƣớc khi đến hạn thanh toán.
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. Phát hành thẻ tín dụng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng chấp nhận cho khách hàng đƣợc sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lƣu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.5 Căn cứ vào hình thức bảo đảm tín dụng Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở các tài sản bảo đảm tiền vay nhƣ thế chấp, cầm cố tài sản hợp pháp của khách hàng hoặc bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba hoặc sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có nguồn thu nhập khác trong trƣờng hợp khách hàng không trả đƣợc nợ vay.
Tín dụng không có bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba mà việc cho vay của ngân hàng chỉ dựa vào uy tín, năng lực tài chính của khách hàng. Vai trò tín dụng của Ngân hàng Thƣơng Mại 1. Đối với nền kinh tế Thứ nhất, tín dụng ngân hàng thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và việc làm. Tín dụng góp phần làm tăng lƣợng vốn đầu tƣ và hiệu quả đầu tƣ.