CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Tín dụng doanh nghiệp của NHTM là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao hoặc cam kết giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Hồ Diệu, 2000).
Chủ thể của tín dụng doanh nghiệp là các doanh nghiệp thuộc khách hàng bán buôn, có doanh thu và vốn chủ sở hữu đáp ứng chỉ tiêu định hình của khái niệm doanh nghiệp theo từng ngân hàng. Đặc điểm – Số lượng KHDN vay vốn tại ngân hàng thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số lượng khách hàng vay vốn của ngân hàng. – Thông tin về KHDN thường có độ tin cậy cao do có thể thu thập được tình hình thực tế của khách hàng qua báo cáo tài chính, thị trường kinh doanh, internet, báo đài. – Nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp đa dạng: vì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều xoay quanh sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm cung ứng trên thị trường, do vậy, hoạt động tín dụng doanh nghiệp đáp ứng cho nhu cầu vốn thiếu hụt đó để bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ, đầu tư dự án.
Chính vì thế, tùy vào mục đích sử dụng vốn khác nhau mà nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp là rất đa dạng. – Thời hạn cho vay đa dạng: tùy vào mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp mà thời hạn cho vay cũng khác nhau. Đối với các khoản vay bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thì thời gian cấp tín dụng không quá 1 năm. Đối với 8 các khoản vay có quy mô lớn như vay vốn để mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất, xây dựng nhà xưởng, đầu tư dự án,.
để có đủ thời gian cho doanh nghiệp trả nợ đầy đủ cho ngân hàng thì thời gian cấp tín dụng thường trên 1 năm. – Quy mô khoản vay KHDN thường lớn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lưu động hoặc đầu tư tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, đầu tư dự án. – Nguồn trả nợ từ hiệu quả sử dụng vốn: doanh nghiệp vay vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh tạo ra nguồn thu, vì vậy NHTM yêu cầu doanh nghiệp vay vốn phải trả nợ từ chính các nguồn thu nhập từ hiệu quả sử dụng vốn vay này, bao gồm: doanh thu, lợi nhuận, khấu hao. Tuy nhiên, doanh nghiệp dễ gặp khó khăn trong việc trả nợ vay khi có sự biến động trong hoạt động kinh doanh như thua lỗ, nợ khó đòi cao, mất nguồn cung cấp.
và biến động trên thị trường tài chính tiền tệ như: lạm phát, khủng hoảng kinh tế. – Tỷ lệ dư nợ được áp dụng hình thức cho vay không có TSBĐ lớn: do năng lực tài chính của doanh nghiệp lớn, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, năng lực quản lý tốt, có vị thế trên thị trường. nên tạo được lòng tin với ngân hàng. Vì vậy nhiều doanh nghiệp có XHTDNB cao thường được ngân hàng áp dụng hình thức cho vay không có TSBĐ hoặc TSBĐ nhỏ hơn số tiền cho vay.
– Chi phí cho vay doanh nghiệp cao: do quy trình cho vay phức tạp, thường xuyên kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh, kiểm tra sử dụng vốn vay. Các hình thức tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Phân theo thời hạn cho vay: cho vay ngắn hạn (thời hạn vay dưới 12 tháng), cho vay trung hạn (thời hạn vay từ 12 tháng đến dưới 60 tháng), cho vay dài hạn (thời hạn vay từ 60 tháng trở lên). Phân theo thành phần kinh tế: cho vay doanh nghiệp nhà nước, cho vay công ty cổ phần, cho vay công ty trách nhiệm hữu hạn, cho vay doanh nghiệp tư nhân, cho vay hợp tác xã và tổ chức khác có tư cách pháp nhân. Phân theo ngành nghề kinh doanh: cho vay lĩnh vực thương mại, cho vay lĩnh vực dịch vụ, cho vay lĩnh vực nông lâm nghiệp, cho vay sản xuất công nghiệp và vật liệu xây dựng, cho vay lĩnh vực khác.
Phân theo phương thức cho vay: cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay từng 9 lần, cho vay hợp vốn, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng… Phân theo hình thức đảm bảo: cho vay có TSBĐ, cho vay không có TSBĐ. Vai trò của tín dụng doanh nghiệp 1. Đối với ngân hàng Tín dụng doanh nghiệp là một hoạt động truyền thống của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho NHTM. Mặc dù tỷ trọng của hoạt động tín dụng doanh nghiệp đang có xu hướng giảm, nhưng tín dụng doanh nghiệp vẫn luôn là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất đối với mỗi ngân hàng.
Thông qua hoạt động tín dụng doanh nghiệp mà ngân hàng đa dạng hóa được danh mục tài sản có, giảm thiểu rủi ro, tăng uy tín trên thị trường; ngân hàng bán chéo được các loại hình dịch vụ khác như huy động vốn, thanh toán, kinh doanh ngoại hối, thẻ. Đối với doanh nghiệp Tín dụng doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho doanh nghiệp. Tín dụng doanh nghiệp làm thỏa mãn được nhu cầu đa dạng của doanh nghiệp như: thuận tiện, nhanh chóng, an toàn, dễ tiếp cận và có khả năng đáp ứng được nhu cầu vốn lớn của doanh nghiệp. Tín dụng doanh nghiệp giúp doanh nghiệp có vốn để mở rộng và phát triển sản xuất, kinh doanh.
Tín dụng doanh nghiệp buộc doanh nghiệp phải luôn nỗ lực, tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn vay hiệu quả, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, tránh ảnh hưởng xấu đến uy tín của doanh nghiệp. Bởi vì, tín dụng doanh nghiệp ràng buộc trách nhiệm doanh nghiệp phải hoàn trả vốn gốc và lãi trong thời hạn nhất định như thỏa thuận cho ngân hàng. Đối với kinh tế - xã hội Vai trò kinh tế cơ bản của tín dụng doanh nghiệp là luân chuyển vốn từ những cá nhân, hộ gia đình, công ty và chính phủ có nguồn vốn thặng dư đến những doanh 1 nghiệp thiếu hụt vốn. Giúp doanh nghiệp có vốn để tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh tạo ra giá trị kinh tế - xã hội.
Tín dụng doanh nghiệp không giới hạn chỉ trong chức năng truyền thống là luân chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu mà còn giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế. Thông qua tín dụng doanh nghiệp mà vốn được chuyển tới những người có các dự án đầu tư hiệu quả hơn nhưng thiếu vốn, góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và năng suất lao động cao. Tín dụng doanh nghiệp góp phần điều tiết thị trường, lưu thông tiền tệ, hàng hóa và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư. Tín dụng doanh nghiệp mang lại nguồn thu thuế lớn cho Ngân sách nhà nước thông qua việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp và lãi từ ủy thác đầu tư vốn của chính phủ.
Tín dụng doanh nghiệp là kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo và ổn định chính trị, xã hội. Chất lượng tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại Hoạt động tín dụng là một hoạt động tạo ra lợi nhuận chủ yếu của NHTM trong nền kinh tế thị trường, nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro nhất. Chính vì vậy mà chất lượng tín dụng là vấn đề quan trọng, sống còn đối với tất cả các NHTM.
Tuy vậy, để đưa ra một khái niệm đúng về chất lượng tín dụng không phải là dễ, bởi lẽ mỗi khái niệm đưa ra đòi hỏi phải chỉ ra nó xuất phát từ đâu trên quan điểm nào. Như ta đã biết mỗi quan điểm khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau về chất lượng tín dụng (Đinh Xuân Hạng, 2012). – Chất lượng tín dụng theo quan điểm của khách hàng: Khách hàng là đối tượng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ tín dụng vì nó là một nguồn tài trợ quan trọng đối với mỗi khách hàng. Mục tiêu của khách hàng là làm tối đa hoá giá trị tài sản của mình hay nói cụ thể hơn là tối đa hoá giá trị sử dụng của khoản vốn vay.
Do vậy, với khách hàng, để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng cái họ quan tâm đầu tiên là quy mô, lãi suất, kỳ hạn, phương thức 1 giải ngân và phương thức thu nợ của khoản tín dụng mà ngân hàng cung cấp có thoả mãn nhu cầu của họ hay không, làm sao để các thủ tục cấp tín dụng được giải quyết một cách nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí hợp lý. Nếu tất cả các yếu tố này đều đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì khoản tín dụng đó được coi là có chất lượng tốt và ngược lại. Do đó theo quan điểm của khách hàng thì chất lượng tín dụng là: Sự thoả mãn nhu cầu của họ về khoản tín dụng trên các phương diện, lãi suất, quy mô, thời hạn, phương thức giải ngân, phương thức thu nợ… (Nguyễn Minh Kiều, 2009). – Chất lượng tín dụng theo quan điểm của ngân hàng: NHTM cũng giống như bất kỳ một doanh nghiệp nào khác trong nền kinh tế, cũng phải hoạt động kinh doanh để đem lại thu nhập tối đa cho chủ sở hữu.
Nhưng điều rất khác của NHTM đối với các doanh nghiệp khác là NHTM là đơn vị kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với 3 nghiệp vụ cơ bản: Nhận tiền gửi, cho vay, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Vì thế theo quan điểm của Ngân hàng thì chất lượng tín dụng với các yếu tố cấu thành cơ bản đó là mức độ an toàn của tín dụng và khả năng sinh lời do hoạt động tín dụng mang lại. Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận hay mối quan hệ giữa an toàn và khả năng sinh lời là mối quan hệ biện chứng. Mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nhà đầu tư là phải cân nhắc giữa mức độ an toàn và khả năng sinh lời.