CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG BÁN LẺ VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở khoa học về tín dụng bán lẻ của các ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm tín dụng và đặc điểm của tín dụng bán lẻ 1.1 Khái niệm Với bất kỳ một nền kinh tế nào cũng đều tồn tại các thành phần, các đơn vị kinh tế thực hiện quá trình sản xuất và lưu thông, trong quá trình này đã phát sinh nhu cầu về vốn. Do vậy tín dụng tồn tại là một yếu tố khách quan để làm đòn bẩy thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển. Nó xuất phát từ gốc Latinh (CREDITUM) có nghĩa là “Sự tin tưởng, tín nhiệm”, trong thực tế cuộc sống thuật ngữ “Tín dụng” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Còn theo quan niệm của người Việt Nam tín dụng biểu hiện mối quan hệ vay mượn hoàn trả.
Một cách chung nhất, khái niệm tín dụng theo pháp luật ngân hàng Việt Nam (Khoản 20 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010) ghi nhận rằng: “Tín dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm giữa bên cho vay (mượn) và bên đi vay (mượn). Theo đó, bên cho vay chuyển giao một lượng vốn tiền tệ (hoặc tài sản) để bên vay sử dụng có thời hạn. Khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn (tài sản) ban đầu và lãi suất”. [3] Tín dụng Bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp nhu cầu tín dụng cho các pháp nhân là doanh nghiệp siêu vi mô, các thể nhân là cá nhân trong nền kinh tế.
Với công nghệ ngân hàng hiện nay, Tín dụng Bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại càng trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế. Tín dụng không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng Bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi 8 sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi. Trong đó, bên vay là các đối tượng cụ thể là các pháp nhân là doanh nghiệp siêu vi mô, các thể nhân là cá nhân, hộ gia đình trong nền kinh tế.2 Đặc điểm Với nền kinh tế hàng hoá, tín dụng tồn tại trên cơ sở mối quan hệ về thanh toán gắn liền với sản xuất hàng hoá.
Nhưng tuỳ thuộc vào loại hình kinh tế mà nhu cầu về vốn cũng khác nhau. Từ đó dẫn đến ở cùng một thời gian sẽ có sự thiếu và thừa vốn tạm thời, mâu thuẫn này sẽ làm cho các cá nhân đơn vị kinh tế tiến hành sản xuất kinh doanh với hiệu quả chưa cao. Tuy nhiên, thực trạng của nhóm đối tượng khách hàng Bán lẻ - các Doanh nghiệp Siêu Vi mô và các khách hàng cá nhân - nguồn cung ứng vốn không thực sự dồi dào. Từ thực tế này NHTM với vai trò là nguời trung gian sẽ tìm cách huy động các nguồn vốn còn nhàn rỗi để cho nhóm khách hàng Bán lẻ vay vốn trên cơ sở: Vay - Trả.
Ẩn dưới sự di chuyển các luồng vốn tạm thời từ ngời có vốn và người cần vốn là quan hệ vay mượn với NHTM đóng vai trò là người trung gian. Nắm rõ các đặc điểm này, các tổ chức tín dụng cho vay phải đảm bảo nguồn lực cũng như có chính sách thích hợp để giải quyết được nhu cầu vay vốn. - Thứ nhất: Đặc điểm dễ nhận nhận thấy của hoạt động tín dụng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế mở rộng, tăng trưởng tốt và ổn định thì nhu cầu tín dụng cho thương mại tăng lên và ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào suy thoái, thì các chủ thể vay với mục đích thương mại sẽ hạn chế tối đa trong việc vay mượn ngân hàng.
Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng cho thương mại chịu ảnh hưởng rất lớn vào thị trường; môi trường kinh tế trong và ngoài nước, như: biến động tỷ giá ngoại tệ, giá vàng, giá bất động sản… - Thứ hai: Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Danh từ tín dụng xuất phát từ chữ la tinh "credo" nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có cơ sở tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức 9 cơ bản trong quản trị tín dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi quyết định cho vay.
- Thứ ba: Là sự chuyển nhượng một lượng giá trị (tiền tệ hoặc hiện vật) có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính "đi vay để cho vay", nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. - Thứ tư: Tính hoàn trả. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng.
Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị ban đầu, nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi này bù đắp chi phí hoạt động và tạo lợi nhuận cho ngân hàng, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Thứ năm: Tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, thiên tai,.
khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. - Thứ sáu: Tín dụng trên nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo đảm tiền vay, bảo lãnh,. trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn.2 Các hình thức tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau người ta có thể phân loại tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại như sau: - Căn cứ vào thời gian vay: Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến một năm.
Đối với khoản tín dụng này thường được dùng để bù đắp sự thiếu hụt nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh của Hộ gia đình, cá nhân kinh doanh và Doanh nghiệp Siêu vi mô. 10 Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm, vốn được sử dụng chủ yếu vào đầu tư tài sản cố định, mở rộng mô hình sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ. Bên cạnh đó, nguồn vốn trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp Siêu vi mô và nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, mua sắm các tài sản có giá trị lớn, mua nhà ở đất ở, mua xe ô tô, xây dựng, sửa chữa nhà ở. Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn lớn và lâu dài như đầu tư sản xuất kinh doanh hay dự án dài hạn như: mua nhà ở đất ở, xây dựng nhà ở, phương tiện vận tải, xây dựng nhà xưởng mới,.
- Căn cứ theo tính chất đảm bảo cho khoản nợ vay: Tín dụng có đảm bảo: Để có thể vay vốn tại NHTM, Khách hàng Bán lẻ cam kết đảm bảo về việc dùng tài sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng để trả nợ cho NHTM như: Nhà cửa, vật kiến trúc, quyền sử dụng đất, máy móc thiết bị, ôtô, TSCĐ khác… hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba. Khi không thực hiện việc trả nợ gốc và lãi theo đúng thời hạn quy định trong hợp đồng, NHTM sẽ phát mại những tài sản đảm bảo đó trên thị trường nhằm thu hồi vốn và lãi. Tín dụng không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng. Đối với những khách hàng có uy tín, có tài chính lành mạnh, quản lý có hiệu quả, làm ăn thường xuyên có lãi, không xảy ra tình trạng nợ nần thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
- Căn cứ theo hình thức tài trợ tín dụng: Cho vay từng lần: Áp dụng cho các trường hợp khách hàng vay vốn phục vụ mục đích tiêu dùng hoặc đầu tư mua sắm tài sản cố định. Thời hạn cho vay linh động tùy theo nhu cầu, năng lực và khả năng thanh toán nợ định kỳ của khách hàng. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Áp dụng trong các trường hợp khách hàng có nhu cầu bổ sung vốn lưu động cho mục đích sản xuất kinh doanh. Thời hạn cho 11 vay trên mỗi hợp đồng tín dụng thường là 12 tháng.
Khi hợp đồng tín dụng theo hạn mức có hiệu lực, khách hàng cần rút vốn sẽ không cần phải ký thêm hợp đồng tín dụng mà chỉ cần lập giấy nhận nợ kèm bảng kê và bản sao chứng từ tài liệu chứng minh mục đích sử dụng tiền vay. - Căn cứ vào đối tượng khách hàng: Tín dụng đối với khách hàng pháp nhân: Là những khách hàng có tư cách pháp nhân tồn tại dưới hình thức Doanh nghiệp tư nhân, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty Cổ phần,. Với đối tượng này, Khách hàng Bán lẻ thuộc phân khúc khách hàng Doanh nghiệp Siêu vi mô có doanh thu thuần hàng năm dưới 20 tỷ đồng.