Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại. - Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu - Chương 3: Thực trạng về chất lượng tín dụng bán lẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Tuyên Quang. - Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng bán lẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Tuyên Quang. 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Luận văn vận dụng các quan điểm về tín dụng ngân hàng, ngân hàng thương mại của các nhà khoa học kinh tế của Việt Nam, đồng thời dựa trên kết quả nghiên cứu của các luận án và đề tài nghiên cứu tương tự trước đó tại Việt Nam. Với đề tài nghiên cứu này là một vấn đề đã có một số tác giả đề cập đến qua các luận án, những công trình nghiên cứu, đề tài khoa học cấp bộ ngành và được tiếp cận dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Qua quá trình nghiên cứu, học viên đã thu thập và chắt lọc những điểm quan trọng liên quan đến luận văn qua một số nghiên cứu trong nước có liên quan như sau: Luận văn thạc sỹ: “Phát triển tín dụng bán lẻ đối với hộ gia đình của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”, của Đoàn Thị Hồng Nga (2010), Đại học Kinh tế quốc dân. Luận văn đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận về tín dụng bán lẻ đối với hộ gia đình và đánh giá thực trạng, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động tín dụng bán lẻ đối với hộ gia đình của Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam trong thời gian qua và sự cần thiết trong việc đưa ra định hướng, giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ đối với hộ gia đình của Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam trong thời gian tới.
Luận văn thạc sỹ: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Cầu Giấy”, (2012), Lê Quốc Khánh, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã hệ thống hóa các kiến thức về hoạt động tín dụng Ngân hàng, đi sâu nghiên cứu về chất lượng tín dụng, đưa ra được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín 4 z dụng (bao gồm các nhân tố chủ quan và các nhân tố khách quan) đồng thời đưa ra các chỉ tiêu định lượng để đánh giá, đo lường chất lượng tín dụng. Tuy nhiện hạn chế của luận văn chưa đưa ra được ý nghĩa của việc phân tích chất lượng tín dụng sẽ đóng góp như thế nào đến sự phát triển hoạt động kinh doanh Ngân hàng, chưa có phần mở rộng đến tính thiết thực của đề tài nghiên cứu, phần giải pháp mang tính sơ bộ và không dẫn đến được các số liệu nghiên cứu. Luận văn thạc sỹ kinh tế: "Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk (2014), Phạm Trường Giang, đại học Kinh tế quốc dân.
Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề về hiệu quả tín dụng, vận dụng vào việc đánh giá thực trạng hiệu quả tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh ĐăkLak (BIDV Đăk Lăk). Từ đó đưa ra những giải pháp, chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của chi nhánh. Nguyễn Thị Như Thủy (2015) đã nêu hiệu quả tín dụng từ góc độ ngân hàng dựa trên hai nhóm chỉ tiêu. Nhóm chỉ tiêu thứ nhất là đo lường hiệu quả tín dụng qua việc xác định hiệu quả tín dụng cuối cùng là lợi nhuận từ hoạt động tín dụng thể hiện qua quy mô và tốc độ tăng trưởng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng.
Nhóm chỉ tiêu thứ hai là đo lường hiệu quả tín dụng thông qua nhóm chỉ tiêu trung gian gồm: nhóm chỉ tiêu đánh giá tín dụng chung được thể hiện qua quy mô tín dụng và chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng doanh số từ tín dụng, nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trực tiếp thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu, hiệu quả sử dụng vốn, hệ số rủi ro tín dụng, hệ số thu nợ, vòng quay vốn tín dụng. Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Khu công nghiệp Tiên Sơn” (2016) của tác giả Đàm Thị Thúy, Trường Đại học thương mại Hà Nội cũng đã nêu bật được thực trạng cho vay KHCN, các nhân tố ảnh hưởng 5 z trong giai đoạn từ 2013 đến 2015 tại Ngân hàng TMCP Công Thương VN - CN Khu công nghiệp Tiên Sơn và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng cho vay KHCN. Có thể nói, có rất nhiều các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh ngân hàng bán lẻ nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều đã đưa ra những lý luận cơ bản về tín dụng bán lẻ, thực trạng hoạt động tín dụng bán lẻ tại các ngân hàng cũng như một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này tại các đơn vị.
Tuy nhiên, mỗi đề tài có đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau, có thời điểm, không gian và thời gian khác nhau nên không thể lấy kết quả nghiên cứu của họ áp dụng một cách dập khuôn vào mô hình của hệ thống BIDV Chi nhánh Tuyên Quang. Do đó, qua quá trình làm việc thực tế tại BIDV Chi nhánh Tuyên Quang, tác giả đã chọn đề tài: “Chất lượng tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Tuyên Quang” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình. Cơ sở lý luận về chất lƣợng tín dụng bán lẻ của ngân hàng thƣơng mại 1. Tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm tín dụng bán lẻ a. Tín dụng ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng với các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế mà ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian. Ngân hàng thương mại huy động vốn bằng tiền của các tổ chức, cá nhân và cho vay đối với các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
Với tư cách đi vay hay còn gọi là huy động vốn, ngân hàng thương mại nhận tiền gửi bằng cách phát hành thẻ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi. Từ nguồn vốn huy động được, ngân hàng thương mại cho vay (cấp tín dụng) các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. 6 z Hoạt động tín dụng có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế vì nó chính là nguồn hỗ trợ cho yêu cầu phát triển, đáp ứng vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt kịp thời, khắc phục nhược điểm của các hình thức tín dụng khác trong lịch sử. Tín dụng là hoạt động đem lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng.
Lãi suất thu được từ tín dụng sẽ dùng để bù đắp chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh, chi phí quản lý, chi phí thuế và các khoản chi phí khác. Với vai trò quan trọng như vậy, NHTM đã có nhiều hình thức tín dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu của các tổ chức kinh tế và các cá nhân nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất. Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 16/6/2010: Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Tín dụng bán lẻ Theo Luật Các tổ chức tín dụng, các loại hình cấp tín dụng được quy định chung, chưa có định nghĩa và giải thích rõ ràng về tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ.
Tại khoản 2 Điều 50 Luật Các tổ chức tín dụng có ghi “Tổ chức tín dụng cho các tổ chức cá nhân vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống” được bao hàm cả hai hoạt động là tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ. Trong hoạt động tín dụng, hiện nay có hai cách hiểu khác nhau về tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ. Thứ nhất, tín dụng bán buôn được hiểu là các khoản cho vay thông qua thị trường tài chính (thị trường tiền tệ liên ngân hàng) hoặc cho vay đối với 7 z các trung gian tài chính khác (các ngân hàng thương mại, quỹ, các tổ chức làm đại lý ủy thác), mà không căn cứ vào quy mô giá trị khoản vay. Còn tín dụng bán lẻ bao gồm những khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng với các khoản cho vay có quy mô giá trị khác nhau.
Người vay cuối cùng ở đây được xác định là người trực tiếp sử dụng vốn vay đưa vào đầu tư mà không thực hiện việc cho vay tiếp tới các đối tượng khác. Thứ hai, tín dụng bán buôn bao gồm các khoản cho vay thông qua thị trường tài chính hoặc cho vay đối với các trung gian tài chính, cộng thêm những khoản cho vay đối với công ty và doanh nghiệp lớn với quy mô giá trị khoản vay đạt ở mức quy định cụ thể nào đó tùy theo từng nước và từng thời kỳ. Tín dụng bán lẻ bao gồm tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng là các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ, cộng thêm các khoản cho vay đối với doanh nghiệp lớn nhưng quy mô giá trị khoản vay nhỏ hơn một mức giá trị cụ thể nào đó. Trong thực tế, những tiêu chí để phân biệt hoạt động tín dụng bán buôn với hoạt động tín dụng bán lẻ mang tính chất tương đối và không phổ biến đối với mọi quốc gia và các ngân hàng.
Tiêu chí của mối loại hình thay đổi theo thời gian và tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng như mục đích quản lý của từng nước, thậm chí từng ngân hàng.