Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Cơ kỹ thuật (Mã số: 9 52 01 01) với đề tài "Chẩn đoán vết nứt trong kết cấu thanh, dầm dựa trên phương trình tần số" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Ba Liên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Tiến Khiêm và TS. Nguyễn Minh Tuấn, bảo vệ tại Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào năm 2022.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong kỹ thuật công trình, chẩn đoán hư hỏng và khuyết tật kết cấu đóng vai trò then chốt nhằm đảm bảo an toàn vận hành và kéo dài tuổi thọ khai thác. Vết nứt là dạng hư hỏng thường gặp, làm mất tính liên tục của vật liệu và suy giảm độ cứng cục bộ của kết cấu. Do vết nứt thường xuất hiện bên trong hoặc tại các vị trí khó quan sát trực tiếp, việc nhận dạng thông qua các đặc trưng động lực học đo đạc từ ứng xử dao động là phương pháp khả thi.
Tuy nhiên, các đặc trưng động lực học hiện nay bộc lộ những hạn chế kỹ thuật:
- Các đặc trưng số (như tần số dao động riêng) mang tính tổng thể, dễ đo đạc chính xác nhưng kém nhạy với các hư hỏng cục bộ.
- Các đặc trưng hàm số (như dạng dao động riêng, hàm đáp ứng tần số) nhạy cảm với hư hỏng cục bộ nhưng khó đo đạc chính xác, phụ thuộc phức tạp vào vị trí kích động và cảm biến.
- Bài toán chẩn đoán vết nứt là bài toán ngược thường không ổn định (ill-posed) do thiếu dữ liệu đo và sai số thực nghiệm. Mặt khác, các phương trình tần số hiện có cho kết cấu có nhiều vết nứt thường ở dạng siêu việt ẩn hoặc chứa các định thức phức tạp, thiếu biểu thức tường minh theo tham số vết nứt để phục vụ tối ưu hóa và chẩn đoán.
Từ đó, khoảng trống nghiên cứu được xác định là: cần tìm kiếm một đặc trưng số có tính chất cục bộ (tần số phản cộng hưởng) và thiết lập các phương trình tần số tường minh, đơn giản dạng đa thức theo tham số vết nứt để giải bài toán chẩn đoán vết nứt trong kết cấu thanh và dầm.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án được xác định gồm hai nội dung chính:
- (a) Sử dụng tần số phản cộng hưởng, một đặc trưng số mang tính chất cục bộ, để chẩn đoán vết nứt trong kết cấu thanh, dầm.
- (b) Xây dựng mối liên hệ giải tích tường minh, đơn giản giữa tần số cộng hưởng và tần số phản cộng hưởng với các tham số vết nứt trong kết cấu thanh, dầm phục vụ việc chẩn đoán vết nứt bằng tần số cộng hưởng và phản cộng hưởng.
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số trong luận án:
- Xây dựng phương trình tần số cộng hưởng và tần số phản cộng hưởng cho thanh, dầm có nhiều vết nứt phục vụ việc nghiên cứu và chẩn đoán vết nứt trong kết cấu thanh, dầm.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của vết nứt đến tần số cộng hưởng và phản cộng hưởng của kết cấu thanh, dầm.
- Đề xuất thuật toán chẩn đoán vết nứt trong kết cấu thanh, dầm bằng tần số cộng hưởng và phản cộng hưởng dựa trên các phương trình tần số cộng hưởng và phản cộng hưởng được xây dựng dưới dạng đa thức đối với các tham số vết nứt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kết cấu một chiều đàn hồi đồng nhất có thiết diện không đổi (thanh chịu kéo nén và dầm chịu uốn thuần túy) chứa nhiều vết nứt. Vết nứt được khảo sát là dạng vết nứt cạnh, nằm trong mặt cắt ngang vuông góc với trục kết cấu, ở trạng thái luôn mở và không phát triển, được đặc trưng bởi hai tham số: vị trí vết nứt $e_j = x_j/L$ và chiều sâu vết nứt $a_j$ (hoặc tham số độ lớn vết nứt $\gamma_j$).
- Phạm vi trạng thái dao động: Khảo sát hai trạng thái dao động cơ bản gồm dao động dọc trục trong thanh và dao động uốn thuần túy theo mô hình dầm Euler-Bernoulli.
- Phạm vi phương pháp: Phương pháp nghiên cứu giải tích giải phương trình vi phân dao động kết hợp với tính toán mô phỏng số trên môi trường MATLAB.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước được điểm lại
Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhánh chủ đề chính:
- Lĩnh vực chẩn đoán hư hỏng kết cấu và giám sát sức khỏe kết cấu (SHM): Lịch sử phát triển được tổng quan qua các giai đoạn: trước năm 1996 [1], 1996–2001 [2], 2001–2011 [3] và 2011–2019 [4]. Các nghiên cứu chỉ ra hai hướng tiếp cận chính: chẩn đoán dựa trên mô hình (Model-based) và chẩn đoán dựa trên triệu chứng/tín hiệu (Signal-based).
- Phương trình tần số của thanh và dầm có vết nứt:
- Đối với thanh có một vết nứt: Adams và cộng sự (1978) [5] lần đầu tiên thiết lập phương trình tần số dạng $d_0(\lambda) + \gamma d_1(\lambda, e) = 0$ bằng việc mô hình hóa vết nứt bằng lò xo dọc trục tương đương có độ cứng $K = EA/(\gamma L)$.
- Đối với thanh có $n$ vết nứt: Ruotolo và Surace (2004) [7] thiết lập phương trình tần số dưới dạng định thức $\det[A(\lambda, e_1, \dots, \gamma_n)] = 0$ với ma trận cấp 4 phức tạp. Morassi và cộng sự (2001, 2007) [21, 22] chỉ ra phương trình này không cho nghiệm duy nhất khi điều kiện biên đối xứng. Một số tác giả khác phải sử dụng giả thiết vết nứt nhỏ ($\gamma \ll 1$) để tuyến tính hóa [25–28].
- Đối với dầm có vết nứt: Phương trình tần số cho dầm một vết nứt được thiết lập trong [12] với các định thức cấp 4, và mở rộng cho dầm nhiều vết nứt trong [15] chứa các hàm hyperbol phức tạp. Việc giải hệ phương trình siêu việt để tìm $2n$ ẩn tham số vết nứt gặp nhiều khó khăn [28–33].
- Ứng dụng công thức Rayleigh: Fernandez-Saez và cộng sự (1999) [17] áp dụng công thức Rayleigh cổ điển để tính tần số riêng dầm một vết nứt. Năm 2011, Nguyễn Tiến Khiêm và cộng sự [18–20] phát triển phương pháp này cho dầm có nhiều vết nứt để chẩn đoán hư hỏng.
- Các nghiên cứu trong nước tại Viện Cơ học (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam): GS. Nguyễn Tiến Khiêm và cộng sự đã phát biểu bài toán chẩn đoán đa vết nứt như bài toán ngược kết hợp độ cứng động lực học và quy hoạch phi tuyến [34]; phương pháp độ nhạy tần số riêng trong khung không gian phần tử hữu hạn [35]; biểu thức hiển dạng riêng chẩn đoán dầm đàn hồi [36]; hàm đáp ứng tần số của dầm chịu tải di động [37]; dầm vật liệu FGM [38]; phương pháp Rayleigh cho dầm bậc [39, 40]; chẩn đoán vết nứt cần cẩu tháp [41]; ứng dụng vật liệu áp điện chẩn đoán dầm của Lưu Quỳnh Hường (2021) [42]; cùng các sách chuyên khảo [43–45].
- Nghiên cứu về tần số phản cộng hưởng (Antiresonance frequency): Tần số phản cộng hưởng là điểm không của hàm đáp ứng tần số (FRF) hoặc hàm cơ động [46]. Khái niệm này ban đầu áp dụng trong điều khiển dao động [47–49], cập nhật mô hình [50–53], sau đó phát triển sang chẩn đoán hư hỏng [54–57]. Wang và cộng sự [58] phát hiện khi điểm đo hoặc điểm kích động trùng nút dao động của một dạng riêng thì tần số phản cộng hưởng trùng với tần số riêng tương ứng. Bamnios và cộng sự [59] trích xuất tần số phản cộng hưởng từ trở kháng cơ học cho dầm công xôn và ngàm hai đầu. Phương pháp trở kháng được áp dụng cho dầm Euler-Bernoulli [60] và dầm Timoshenko [61]. Dilena và Morassi [62–65], Rubio và cộng sự [66, 67] chứng minh sử dụng kết hợp tần số phản cộng hưởng và tần số riêng giải quyết được bài toán mà tần số riêng đơn lẻ không làm được. Đặc biệt, Meruane và Heylen [68] kết luận chẩn đoán bằng tần số phản cộng hưởng kết hợp tần số riêng hiệu quả hơn việc kết hợp tần số riêng với dạng dao động riêng.
Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu giải tích của trường phái GS. Nguyễn Tiến Khiêm, tập trung giải quyết khoảng trống: thiết lập phương trình tần số dạng tường minh (đa thức theo tham số vết nứt) cho dao động dọc trục của thanh và dao động uốn của dầm có nhiều vết nứt; xây dựng công thức Rayleigh mở rộng cho dao động dọc trục của thanh; và xây dựng thuật toán chẩn đoán đa vết nứt bằng cách kết hợp tần số cộng hưởng (đặc trưng tổng thể) và tần số phản cộng hưởng (đặc trưng cục bộ).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và mô hình toán học
- Mô hình hóa vết nứt: Áp dụng cơ học phá hủy đàn hồi tuyến tính, vết nứt ngang mở được mô hình hóa tương đương bằng một lò xo tập trung tại vị trí $x_j$:
- Dao động dọc trục của thanh: Lò xo dọc trục có độ cứng $K_j = EA / (\gamma_j L)$, trong đó tham số chiều sâu vết nứt không thứ nguyên $\gamma_j$ được tính theo công thức:
$$\gamma_j = 2(1 - \nu^2)\left(\frac{h}{L}\right) f(z_j), \quad z_j = \frac{a_j}{h}$$
với $\nu$ là hệ số Poisson, $h$ là chiều cao mặt cắt, $L$ là chiều dài thanh, $a_j$ là chiều sâu vết nứt.
- Dao động uốn của dầm: Lò xo xoay tương đương biểu thị độ mềm uốn cục bộ.
- Phương trình vi phân dao động:
- Dao động dọc trục tự do: $\phi''(x) + \lambda^2 \phi(x) = 0$ với $\lambda = \omega L \sqrt{\rho / E}$.
- Dao động uốn tự do của dầm Euler-Bernoulli: $\phi^{(4)}(x) - \lambda^4 \phi(x) = 0$.
- Khái niệm hàm đáp ứng tần số và tần số phản cộng hưởng: Ma trận độ cứng động lực học $\mathbf{K}(\omega)$, ma trận hàm đáp ứng tần số $\mathbf{H}(\omega) = \mathbf{K}^{-1}(\omega)$. Tần số phản cộng hưởng $\omega_a$ là nghiệm làm triệt tiêu biên độ hàm đáp ứng tần số tại điểm đo cụ thể ($H_{ij}(\omega_a) = 0$).
- Lý thuyết bài toán ngược và phương pháp chỉnh hóa Tikhonov: Xử lý hệ phương trình chẩn đoán phi tuyến/kỳ dị thông qua kỹ thuật chỉnh hóa Tikhonov kết hợp phân tích khai triển giá trị kỳ dị (SVD) của ma trận.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp giải tích: Sử dụng nghiệm tổng quát của phương trình vi phân kết hợp điều kiện biên tổng quát và điều kiện gián đoạn/liên tục tại vị trí các vết nứt để suy biến hệ phương trình vi phân thành phương trình đặc trưng tường minh dạng đa thức đối với các tham số vết nứt $\gamma_j$. Thiết lập công thức Rayleigh tích phân mở rộng.
- Phương pháp tính toán và thử nghiệm số: Xây dựng thuật toán giải phương trình siêu việt (phương pháp dây cung), thuật toán chẩn đoán nhận dạng vết nứt, lập trình toàn bộ trên môi trường phần mềm MATLAB để tính toán tần số riêng, tần số phản cộng hưởng và mô phỏng nhận dạng vị trí, kích thước vết nứt.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 1 trình bày tổng quan ba vấn đề trọng tâm:
- Bài toán chẩn đoán hư hỏng kết cấu: Định nghĩa trạng thái kỹ thuật công trình, phân loại phương pháp tiếp cận dựa trên mô hình và dựa trên triệu chứng, phân tích ưu nhược điểm của các đặc trưng số và đặc trưng hàm số trong động lực học công trình.
- Chẩn đoán vết nứt trong thanh, dầm bằng tần số riêng: Điểm lại các mô hình thanh dao động dọc trục và dầm dao động uốn có vết nứt từ năm 1978 đến nay. Khẳng định khó khăn cốt lõi của bài toán ngược là số lượng tần số đo được thực tế luôn hữu hạn, trong khi hệ phương trình xác định vị trí và độ sâu của $n$ vết nứt là hệ siêu việt phi tuyến phức tạp.
- Tần số phản cộng hưởng và ứng dụng: Phân tích bản chất vật lý của hiện tượng phản cộng hưởng trên hệ dao động nhiều bậc tự do. Chứng minh tần số phản cộng hưởng là đặc trưng số mang tính chất cục bộ (phụ thuộc vào vị trí đặt lực kích động và vị trí đặt cảm biến đo), từ đó luận giải tính khả thi của việc kết hợp tần số phản cộng hưởng với tần số cộng hưởng để giải quyết bài toán chẩn đoán vết nứt.
Chương 2: Dao động dọc trục của thanh có nhiều vết nứt
Chương 2 tập trung giải quyết hai bài toán giải tích lớn cho dao động dọc trục:
1. Thiết lập phương trình tần số dạng đa thức tường minh
Xét thanh đồng nhất chiều dài $L$, diện tích mặt cắt ngang $A$, mô đun đàn hồi $E$, khối lượng riêng $\rho$, chứa $n$ vết nứt tại các vị trí không thứ nguyên $e_j = x_j/L$ ($0 < e_1 < \dots < e_n < 1$).
- Phương trình dao động: $\phi''(x) + \lambda^2 \phi(x) = 0$.
- Điều kiện biên tổng quát tại hai đầu:
$$\alpha_0 \phi(0) + \beta_0 \phi'(0) = 0, \quad \alpha_1 \phi(1) + \beta_1 \phi'(1) = 0$$
Bảng 2.1: Các tham số tương ứng với một số điều kiện biên của thanh
| STT |
Điều kiện biên |
Tham số $\alpha_0$ |
Tham số $\beta_0$ |
Tham số $\alpha_1$ |
Tham số $\beta_1$ |
| 1 |
Hai đầu tự do: $\phi'(0)=\phi'(1)=0$ |
$0$ |
$1$ |
$0$ |
$1$ |
| 2 |
Hai đầu ngàm: $\phi(0)=\phi(1)=0$ |
$1$ |
$0$ |
$1$ |
$0$ |
| 3 |
Một đầu ngàm, một đầu tự do: $\phi(0)=\phi'(1)=0$ |
$1$ |
$0$ |
$0$ |
$1$ |
| 4 |
Hai đầu có lò xo dọc trục ($K_0, K_1$) |
$1$ |
$-EA/K_0$ |
$1$ |
$EA/K_1$ |
- Điều kiện tại vết nứt: $K_j [\phi(e_j+0) - \phi(e_j-0)] = EA \phi'(e_j)$, $\phi'(e_j+0) = \phi'(e_j-0)$.
- Hàm dạng dao động tổng quát được chứng minh dưới dạng:
$$\phi(x) = C \left[ L_0(x) + \sum_{j=1}^n \mu_j K(x - e_j) \right]$$
trong đó $\mu_j$ được xác định qua hệ phương trình tuyến tính $\mathbf{A} \boldsymbol{\mu} = \mathbf{b}$, với ma trận $\mathbf{A}$ luôn có định thức $\det(\mathbf{A}) = 1$.
- Phương trình tần số chính xác được đưa về dạng đa thức bậc $n$ theo các tham số vết nứt $\gamma_j$:
- Thanh không nứt: $d_0(\lambda) = (\alpha_0 \beta_1 \lambda^2 - \beta_0 \alpha_1) \sin \lambda + (\alpha_1 \alpha_0 + \beta_0 \beta_1 \lambda^2) \cos \lambda = 0$.
- Thanh có 1 vết nứt: $D_1(\lambda) = d_0(\lambda) + \gamma_1 d_1(\lambda, e_1) = 0$.
- Thanh có 2 vết nứt: $D_2(\lambda) = d_0(\lambda) + \gamma_1 d_1(\lambda, e_1) + \gamma_2 d_1(\lambda, e_2) + \gamma_1 \gamma_2 d_2(\lambda, e_2, e_1) = 0$.
- Thanh có $n$ vết nứt: Phương trình tổng quát dạng khai triển đa thức bậc $n$.
- Các phương trình xấp xỉ tiệm cận: Xây dựng các xấp xỉ bậc nhất, bậc hai, bậc ba khi vết nứt nhỏ ($\gamma_j \ll 1$).
2. Kết quả số và phân tích nút tần số
- So sánh nghiệm số giữa phương trình chính xác và các phương trình xấp xỉ:
- Xấp xỉ bậc nhất cho kết quả chính xác khi chiều sâu vết nứt $a/h \le 20%$.
- Xấp xỉ bậc hai và bậc ba cho kết quả chính xác với chiều sâu vết nứt lên đến $30% - 40%$.
- Tần số thứ nhất có thể tính chính xác bằng xấp xỉ bậc ba với chiều sâu vết nứt lên đến $50%$ (đối với thanh hai đầu tự do).
- Điểm nút tần số: Luận án xác định các vị trí trên thanh mà khi vết nứt xuất hiện tại đó, tần số riêng tương ứng không bị thay đổi, xác định từ phương trình $d_1(\lambda_0, x) = 0$.
Bảng 2.2: Các nút của tần số riêng trong thanh với các điều kiện biên
| Trị riêng |
Hai đầu ngàm |
Hai đầu tự do |
Một đầu ngàm, một đầu tự do |
| 1 |
$1/2$ |
Không có |
Không có |
| 2 |
$1/4;; 3/4$ |
$0.5$ |
Không có |
| 3 |
$1/6;; 1/2;; 5/6$ |
$0.25;; 0.75$ |
Không có |
3. Mở rộng công thức Rayleigh cho thanh có nhiều vết nứt
Luận án lần đầu tiên thiết lập công thức Rayleigh mở rộng cho dao động dọc trục của thanh có $n$ vết nứt:
$$\frac{\lambda^2}{\lambda_0^2} = \frac{\int_0^1 \phi'^2(x)dx + \sum_{j=1}^n \gamma_j \phi^2(e_j)}{\int_0^1 \phi^2(x)dx}$$
Bảng 2.3: Tần số riêng và dạng riêng của thanh không nứt
| Điều kiện biên |
Tần số riêng $\lambda_{0k}$ |
Dạng riêng $\phi_{0k}(x)$ |
| Hai đầu tự do |
$\lambda_{0k} = k\pi \quad (k=1,2,3,\dots)$ |
$\phi_{0k}(x) = C_k \cos(k\pi x)$ |
| Một đầu ngàm, một đầu tự do |
$\lambda_{0k} = (2k+1)\pi/2 \quad (k=0,1,2,\dots)$ |
$\phi_{0k}(x) = C_k \sin\left[\left(k+\frac{1}{2}\right)\pi x\right]$ |
| Hai đầu ngàm |
$\lambda_{0k} = k\pi \quad (k=1,2,3,\dots)$ |
$\phi_{0k}(x) = C_k \sin(k\pi x)$ |
Khai triển Rayleigh cho phép tính toán trực tiếp tần số riêng thông qua chuỗi Taylor theo các tham số vết nứt $\gamma_j$ mà không cần giải phương trình siêu việt phức tạp.
Chương 3: Chẩn đoán vết nứt trong thanh bằng tần số phản cộng hưởng
Chương 3 xây dựng cơ sở lý thuyết và quy trình nhận dạng vết nứt trong thanh chịu kéo nén:
- Thiết lập phương trình tần số phản cộng hưởng: Tính toán hàm đáp ứng tần số $H(x, x_p, \omega)$ của thanh có nhiều vết nứt chịu lực kích động tại $x_p$ và đo đáp ứng tại $x$. Thiết lập phương trình xác định tần số phản cộng hưởng từ điều kiện triệt tiêu hàm đáp ứng tần số.
- Khảo sát ảnh hưởng của vết nứt: Phân tích sự phụ thuộc của các tần số phản cộng hưởng bậc 1, bậc 2, bậc 3 vào vị trí $e$ và chiều sâu $a/h$ của vết nứt đối với các điều kiện biên khác nhau (ngàm - tự do, hai đầu tự do). Kết quả khẳng định tần số phản cộng hưởng biến thiên rất mạnh theo vị trí vết nứt và vị trí đặt lực/điểm đo.
- Thuật toán chẩn đoán vết nứt:
- Xây dựng hệ phương trình kết hợp giữa các tần số cộng hưởng và tần số phản cộng hưởng.
- Thử nghiệm số chẩn đoán một vết nứt và hai vết nứt trong thanh hai đầu tự do và thanh ngàm - tự do.
- So sánh kết quả nhận dạng giữa phương trình tuyến tính hóa bậc nhất và phương trình phi tuyến chính xác, chứng minh thuật toán có khả năng hội tụ và xác định chính xác vị trí $e_j$ và độ lớn vết nứt $\gamma_j$.
Chương 4: Chẩn đoán vết nứt trong dầm đàn hồi bằng tần số phản cộng hưởng
Chương 4 mở rộng phương pháp cho kết cấu dầm chịu uốn theo mô hình Euler-Bernoulli:
- Phương trình tần số uốn của dầm có nhiều vết nứt:
- Xây dựng hàm dạng dao động uốn tổng quát thỏa mãn các điều kiện biên (tựa đơn, ngàm - tự do, hai đầu ngàm) và điều kiện liên tục qua $n$ lò xo xoay đàn hồi mô phỏng vết nứt uốn.
- Thiết lập phương trình tần số chính xác và các phương trình xấp xỉ bậc 1, bậc 2, bậc 3. So sánh tần số uốn tính được trên dầm công xôn có 2, 3, 9 và 19 vết nứt giữa nghiệm xấp xỉ và nghiệm chính xác.
- Tần số phản cộng hưởng trong dao động uốn:
- Xây dựng hàm đáp ứng tần số uốn $H(x, x_f, \omega)$ dưới tác dụng của lực uốn tập trung tại $x_f$.
- Thiết lập phương trình xác định tần số phản cộng hưởng uốn.
- Khảo sát sự thay đổi tỷ số tần số phản cộng hưởng thứ nhất của dầm tựa đơn, dầm hai đầu ngàm, dầm công xôn theo vị trí vết nứt, chiều sâu vết nứt và điểm đặt lực kích động.
- Thuật toán và kết quả thử nghiệm số chẩn đoán vết nứt trong dầm:
- Đề xuất thuật toán chẩn đoán đa vết nứt bằng tần số phản cộng hưởng kết hợp kỹ thuật điều chỉnh Tikhonov để giải hệ phương trình ma trận kỳ dị.
- Chẩn đoán 1 vết nứt trong dầm công xôn: Thực nghiệm số với số vết nứt giả thiết là 15 và 20, thay đổi số lượng điểm đo từ 10, 13, 14, 15, 16, 18 đến 20 điểm. Kết quả cho thấy khi số điểm đo đạt từ 15 đến 20, thuật toán xác định chính xác vị trí vết nứt thực tại $e = 0.4$ và $e = 0.5$.
- Chẩn đoán 3 vết nứt trong dầm công xôn: Giả thiết 20 vị trí vết nứt tiềm năng, khảo sát dầm có 3 vết nứt thực tại các vị trí $e = 0.2;; 0.5;; 0.9$ với chiều sâu tương ứng $a/h = 30%;; 20%;; 50%$. Khi tăng số lượng điểm đo từ 10 lên 16, 18 và 20 điểm đo, thuật toán lọc bỏ hoàn toàn các vết nứt giả và nhận dạng chính xác vị trí cũng như độ sâu của cả 3 vết nứt.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo nội dung luận án, các kết quả và đóng góp mới của công trình bao gồm:
- Về mặt lý thuyết phương trình tần số: Thiết lập được phương trình tần số dạng đa thức tường minh đối với các tham số vết nứt cho dao động dọc trục của thanh và dao động uốn của dầm đàn hồi chứa nhiều vết nứt dưới các điều kiện biên tổng quát. Đây là công cụ giải tích giúp đơn giản hóa việc giải bài toán thuận và bài toán ngược so với các phương trình siêu việt trước đây.
- Về mở rộng công thức Rayleigh: Đã nghiên cứu xây dựng và lần đầu tiên thiết lập thành công công thức Rayleigh mở rộng cho dao động dọc trục của thanh có nhiều vết nứt, cho phép tính toán nhanh tần số riêng thông qua biểu thức giải tích gần đúng dạng chuỗi Taylor.
- Về nghiên cứu tần số phản cộng hưởng: Xây dựng hệ phương trình xác định hàm đáp ứng tần số và phương trình tần số phản cộng hưởng cho kết cấu thanh và dầm có nhiều vết nứt; khảo sát chi tiết ảnh hưởng của vị trí, kích thước vết nứt và vị trí kích động/đo đạc đến tần số phản cộng hưởng; làm sáng tỏ tính chất cục bộ của đặc trưng này.
- Về thuật toán chẩn đoán hư hỏng: Đề xuất thuật toán chẩn đoán vị trí và kích thước của một và nhiều vết nứt trong kết cấu thanh, dầm dựa trên sự kết hợp giữa tần số cộng hưởng và tần số phản cộng hưởng, kết hợp phương pháp điều chỉnh Tikhonov và khai triển kỳ dị ma trận (SVD) để xử lý bài toán ngược có dữ liệu đo giới hạn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên phạm vi và nội dung được trình bày trong luận án, các giới hạn nghiên cứu gồm:
- Phạm vi mô hình kết cấu: Nghiên cứu tập trung vào kết cấu một chiều (thanh, dầm Euler-Bernoulli) đàn hồi tuyến tính, đẳng hướng, có tiết diện không đổi; chưa xét đến kết cấu 2D/3D phức tạp, kết cấu có tiết diện thay đổi hoặc dầm Timoshenko (xét biến dạng trượt và quán tính quay).
- Mô hình vết nứt: Giả thiết vết nứt ngang, luôn mở (open crack) và không phát triển; chưa xét đến mô hình vết nứt đóng mở theo chu kỳ dao động (breathing crack) gây ra tính phi tuyến động học.
- Dữ liệu thực nghiệm: Các kết quả chẩn đoán và kiểm chứng trong luận án chủ yếu thực hiện qua mô phỏng số trên môi trường MATLAB với các số liệu tính toán giải tích; chưa tiến hành thử nghiệm đo đạc thực nghiệm trên mô hình vật lý thực tế có tác động của nhiễu môi trường và cản nhớt lớn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Cơ kỹ thuật, Kỹ thuật Cơ khí, Kỹ thuật Xây dựng, Kỹ thuật Công trình Giao thông; đặc biệt là nội dung thiết lập hàm dạng dao động tổng quát, phương trình tần số dạng đa thức và công thức Rayleigh mở rộng ở Chương 2 và Chương 4.
- Kỹ sư và chuyên gia phân tích kết cấu: Làm việc trong lĩnh vực giám sát sức khỏe kết cấu (SHM), bảo trì và đánh giá an toàn công trình cầu, tháp, trụ cọc; có thể tham khảo thuật toán kết hợp tần số phản cộng hưởng và phương pháp chỉnh hóa Tikhonov ở Chương 3 và Chương 4 để phát triển các phần mềm chẩn đoán khuyết tật kết cấu.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án lại sử dụng tần số phản cộng hưởng thay vì chỉ sử dụng tần số dao động riêng truyền thống?
Tần số dao động riêng (tần số cộng hưởng) là một đặc trưng tổng thể, dễ đo đạc nhưng rất ít nhạy cảm với các hư hỏng cục bộ dạng vết nứt nhỏ. Ngược lại, tần số phản cộng hưởng (điểm triệt tiêu của hàm đáp ứng tần số) phụ thuộc trực tiếp vào vị trí đặt lực kích động và vị trí đo đáp ứng, do đó mang tính chất cục bộ tương tự như dạng dao động riêng nhưng lại dễ đo đạc chính xác hơn dạng riêng. Kết hợp cả hai loại tần số giúp giải quyết triệt để bài toán ngược chẩn đoán đa vết nứt khi số lượng cảm biến bị hạn chế.
2. Mô hình toán học của vết nứt trong thanh và dầm được thiết lập như thế nào?
Vết nứt ngang, mở được mô hình hóa theo cơ học phá hủy đàn hồi tuyến tính bằng các lò xo tập trung:
- Trong thanh chịu dao động dọc trục: Vết nứt được thay thế bằng lò xo dọc trục có độ cứng $K_j = EA / (\gamma_j L)$, trong đó $\gamma_j$ là tham số độ lớn vết nứt phụ thuộc vào tỷ số chiều sâu $a_j/h$ và hệ số Poisson $\nu$.
- Trong dầm chịu dao động uốn: Vết nứt được mô hình hóa bằng lò xo xoay tương đương làm gián đoạn độ dốc đường đàn hồi tại mặt cắt nứt.
3. Phương trình tần số dạng đa thức do tác giả xây dựng có ưu điểm gì so với các công trình trước đây?
Các nghiên cứu trước đây (như Ruotolo và Surace) đưa ra phương trình tần số dưới dạng định thức ma trận phức tạp chứa các hàm siêu việt, rất khó giải bài toán ngược. Luận án đã biến đổi giải tích để đưa phương trình tần số về dạng đa thức tường minh theo các bậc của tham số độ lớn vết nứt $\gamma_j$ (bậc 1 cho 1 vết nứt, bậc 2 cho 2 vết nứt, bậc $n$ cho $n$ vết nứt), cho phép xây dựng các công thức xấp xỉ tiệm cận bậc 1, bậc 2, bậc 3 rất thuận tiện cho tính toán và tối ưu hóa.
4. Điểm nút tần số là gì và có ý nghĩa như thế nào trong chẩn đoán vết nứt?
Điểm nút tần số là vị trí trên kết cấu mà khi vết nứt xuất hiện tại đó thì tần số riêng của một bậc dao động tương ứng hoàn toàn không bị thay đổi ($d_1(\lambda_0, x) = 0$). Ví dụ, đối với thanh hai đầu ngàm, điểm giữa thanh ($x = 0.5$) là nút của tần số riêng thứ nhất. Nhận biết các điểm nút tần số giúp giải thích hiện tượng "mù vết nứt" nếu chỉ đo một tần số riêng đơn lẻ, đồng thời định hướng bố trí các điểm kích động và điểm đo đáp ứng phù hợp.
5. Luận án đã xử lý tính chất không ổn định (ill-posed) của bài toán ngược chẩn đoán vết nứt như thế nào?
Khi số lượng điểm đo thực tế ít hơn số vết nứt giả thiết hoặc ma trận phương trình chẩn đoán bị suy biến/kỳ dị, bài toán nhận dạng thường vô nghiệm hoặc nghiệm không ổn định. Tác giả đã áp dụng phương pháp điều chỉnh Tikhonov kết hợp với thuật toán phân tích khai triển giá trị kỳ dị (SVD) của ma trận, cho phép lọc bỏ các nghiệm ảo và xác định chính xác vị trí cũng như độ sâu của các vết nứt thực tế (như trường hợp nhận dạng thành công 3 vết nứt với 20 điểm đo trên dầm công xôn).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Ba Liên đã giải quyết một cách có hệ thống bài toán dao động và chẩn đoán đa vết nứt trong kết cấu thanh và dầm đàn hồi dựa trên phương trình tần số. Bằng phương pháp giải tích kết hợp mô phỏng số, tác giả đã thiết lập thành công phương trình tần số dạng đa thức tường minh, mở rộng công thức Rayleigh cho dao động dọc trục của thanh và xây dựng các thuật toán chẩn đoán vết nứt hiệu quả thông qua việc kết hợp tần số cộng hưởng và tần số phản cộng hưởng. Các kết quả đạt được cung cấp cơ sở khoa học quan trọng và công cụ tính toán giải tích hữu ích cho lĩnh vực cơ kỹ thuật và giám sát sức khỏe kết cấu công trình.