Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Phạm Thị Vân Trinh với đề tài "Cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, kinh doanh bất động sản tại Việt Nam", chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số: 9 34 02 01), được bảo vệ tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 2 năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Hoàng Ngân và TS. Vũ Văn Thực.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hoạt động đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản (BĐS) tại Việt Nam mang tính đặc thù cao do hàng hóa BĐS có giá trị lớn, vị trí cố định, chu kỳ đầu tư dài và chịu sự chi phối chặt chẽ của hệ thống pháp luật, thể chế quản lý nhà nước. Từ khi Luật Đất đai năm 1993 được ban hành, thị trường BĐS Việt Nam đã trải qua nhiều chu kỳ phát triển thiếu ổn định, xen kẽ giữa các đợt tăng trưởng nóng và giai đoạn đóng băng. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, chỉ số VN-Index đã sụt giảm mạnh từ 1.158,9 điểm (tháng 3/2007) xuống mức đáy 234,66 điểm (tháng 2/2009). Cùng thời điểm đó, hiện tượng vỡ bong bóng BĐS xuất hiện, lãi suất vay ngân hàng thương mại tăng vọt (đạt đỉnh 20,10% vào quý 3/2008), khiến các doanh nghiệp BĐS gặp khó khăn nghiêm trọng trong việc huy động vốn qua thị trường chứng khoán.
Dữ liệu giai đoạn 2008–2017 ghi nhận quy mô nguồn vốn trung bình của các doanh nghiệp BĐS niêm yết tăng 23,87%/năm, nợ phải trả chiếm bình quân 53,57% tổng nguồn vốn, trong đó nợ ngắn hạn chiếm tới 60,22% tổng nợ. Tình trạng dùng vốn ngắn hạn tài trợ cho các dự án dài hạn khiến khả năng thanh khoản giảm sút bình quân 15%/năm, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) giảm bình quân 1,91%/năm, tỷ lệ nợ xấu BĐS toàn hệ thống ngân hàng tăng bình quân 7,56%/năm, và 44,28% số doanh nghiệp quan sát rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính. Phần lớn doanh nghiệp lựa chọn cấu trúc tài chính dựa trên cảm tính chủ quan: 40% doanh nghiệp có tỷ lệ nợ vượt ngưỡng mục tiêu và 74,29% doanh nghiệp sử dụng nợ dài hạn dưới mức mục tiêu.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định gồm: (i) thiếu vắng các công trình đánh giá tác động đồng thời của yếu tố thể chế và các chỉ tiêu vi mô đến quyết định tài chính của ngành BĐS tại thị trường mới nổi; (ii) các nghiên cứu trong nước chủ yếu dừng ở mô hình tĩnh hoặc chỉ đo lường tốc độ điều chỉnh mà chưa lượng hóa ngưỡng cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu cụ thể; (iii) chưa có nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam xem xét mối quan hệ tác động tương hỗ hai chiều giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Luận chứng các cách tiếp cận lý luận và phương pháp luận trong nghiên cứu cấu trúc vốn mục tiêu, cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu; gợi ý các kiến nghị để doanh nghiệp đầu tư xây dựng, kinh doanh BĐS niêm yết tại Việt Nam đạt được cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu.
- Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, kinh doanh BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Xác định tốc độ điều chỉnh nhằm đạt được cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu của các doanh nghiệp này.
- Nghiên cứu tác động giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu.
- Xác định ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu của các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, kinh doanh BĐS niêm yết tại Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
- Cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp ĐT XD KD BĐS niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam chịu tác động bởi các yếu tố nào?
- Tốc độ điều chỉnh về cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu của các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là bao nhiêu?
- Tồn tại tác động hai chiều giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ hay không?
- Tồn tại ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn mục tiêu tại các doanh nghiệp ĐT XD KD BĐS niêm yết tại Việt Nam hay không? Ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu là bao nhiêu?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc vốn (đo lường bằng tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản), cấu trúc kỳ hạn nợ (tỷ lệ nợ dài hạn có chi phí lãi vay trên tổng nợ) và mối quan hệ tương tác giữa hai cấu trúc này tại các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, kinh doanh BĐS.
- Phạm vi không gian: 70 doanh nghiệp đầu tư xây dựng, kinh doanh BĐS niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ năm 2008 đến năm 2017 (dữ liệu bảng cân bằng với 700 quan sát).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu thực nghiệm tiền nhiệm
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn nhóm trọng tâm:
-
Các nghiên cứu về yếu tố tác động đến cấu trúc vốn:
- Nghiên cứu quốc tế: Rajan & Zingales (1995), Booth & ctg (2001), Graham & Harvey (2001) tại các nước phát triển; Chen (2003), Deesomsak & ctg (2004), Li (2010), Ramzi & Tarazi (2013) tại các thị trường mới nổi. Haron (2014) khảo sát 127 doanh nghiệp BĐS tại Malaysia giai đoạn 2000–2009 qua phương pháp Diff-GMM, xác nhận tính chất động của cấu trúc vốn. Về khía cạnh thể chế, các công trình của Demirguc-Kunt & Maksimovic (1996; 1999), Jong & ctg (2008), Öztekin & Flannery (2012) chỉ ra ảnh hưởng của khung pháp lý, tham nhũng và bảo hộ quyền sở hữu đến đòn bẩy tài chính.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Đoàn Ngọc Phi Anh (2010), Dương Thị Hồng Vân (2014), Võ Thị Quý (2014) kiểm định các nhân tố vi mô và hành vi nhà quản trị; Võ Xuân Vinh (2014) nghiên cứu mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và cấu trúc vốn giai đoạn 2006–2012.
-
Các nghiên cứu về tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn:
- Ozkan (2001) ghi nhận tốc độ điều chỉnh của các doanh nghiệp tại Anh từ 7% đến 18%/năm; Flannery & Rangan (2006) ước lượng mức 35,5%/năm; De Miguel & Pindado (2001) đạt gần 80%/năm; Haron (2014) ghi nhận 82,68%/năm ở ngành BĐS Malaysia.
- Tại Việt Nam: Trần Hùng Sơn (2013), Lê Đạt Chí (2013) áp dụng mô hình động; Đặng Thị Thùy Anh & ctg (2014) áp dụng mô hình tĩnh; Phạm Tiến Minh & ctg (2015) so sánh mô hình tĩnh và động; Trần Thị Kim Oanh (2018) nghiên cứu tốc độ điều chỉnh trong bối cảnh khủng hoảng tài chính 2008.
-
Các nghiên cứu về cấu trúc kỳ hạn nợ và tốc độ điều chỉnh kỳ hạn nợ:
- Nghiên cứu nền tảng: Barnea & ctg (1980), Brick & Ravid (1985), Flannery (1986), Diamond (1991), Stohs & Mauer (1996). Ooi (1999) khảo sát 83 doanh nghiệp BĐS Anh giai đoạn 1989–1995, cho thấy nợ ngắn hạn chiếm ưu thế khi doanh nghiệp tận dụng cơ hội mở rộng tài sản.
- Yếu tố thể chế và vĩ mô tác động đến kỳ hạn nợ: Antoniou & ctg (2006), Cai & ctg (2008), Deesomsak & ctg (2009), Wang & ctg (2010), Fan & ctg (2012), Kirch & Terra (2012).
- Tốc độ điều chỉnh kỳ hạn nợ: Ozkan (2000), Antoniou & ctg (2006). Tại Việt Nam, Nguyễn Thanh Nhã (2018) ghi nhận tốc độ điều chỉnh kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp phi tài chính dao động từ 30% đến 40%/năm.
-
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ:
- Các công trình quốc tế như Antoniou & ctg (2006), Teruel & Solano (2007), Cai & ctg (2008), Deesomsak & ctg (2009), Lemma & Negash (2012), Mateus & Terra (2013), Costa & ctg (2014) kiểm định sự phụ thuộc lẫn nhau giữa đòn bẩy và kỳ hạn nợ, tuy nhiên kết quả về chiều hướng tác động (cùng chiều hay ngược chiều) chưa có sự thống nhất.
Khoảng trống luận án giải quyết
Thứ nhất, luận án tích hợp biến thể chế vào hàm hồi quy thực nghiệm để lượng hóa tác động của môi trường pháp lý đến quyết định cấu trúc vốn và kỳ hạn nợ của doanh nghiệp BĐS tại một nền kinh tế chuyển đổi. Thứ hai, luận án vượt qua hạn chế của các mô hình tuyến tính bằng cách ứng dụng hồi quy ngưỡng (PTR) để tính toán điểm số giới hạn cụ thể cho cấu trúc vốn và kỳ hạn nợ tối ưu. Thứ ba, luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam về tác động tương hỗ giữa quyết định đòn bẩy tài chính và quyết định lựa chọn thời hạn khoản nợ trong cùng một khuôn khổ phân tích.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng
Luận án kế thừa và phối hợp 7 lý thuyết tài chính doanh nghiệp:
- Lý thuyết Modigliani & Miller (MM 1958, 1963): Khẳng định trong điều kiện có thuế thu nhập doanh nghiệp, việc gia tăng nợ mang lại giá trị nhờ tấm chắn thuế lãi vay.
- Lý thuyết đánh đổi (Trade-off Theory - TOT): Do Kraus & Litzenberger (1973) phát triển, chỉ ra sự cân bằng giữa lợi ích tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính. Mô hình đánh đổi động giải thích việc doanh nghiệp điều chỉnh dần về cấu trúc mục tiêu do sự tồn tại của chi phí giao dịch.
- Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory - POT): Do Myers & Majluf (1984) xây dựng, chỉ ra trật tự ưu tiên tài trợ từ nguồn vốn nội bộ, đến nợ vay, và cuối cùng mới phát hành cổ phiếu mới do bất cân xứng thông tin.
- Lý thuyết chi phí đại diện (Agency Cost Theory): Do Jensen & Meckling (1976) thiết lập, phân tích xung đột lợi ích giữa cổ đông - nhà quản lý và cổ đông - chủ nợ. Nợ ngắn hạn giúp giảm thiểu chi phí đại diện thông qua việc giám sát định kỳ khi đáo hạn.
- Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory): Do Ross (1977), Flannery (1986), Diamond (1991) phát triển, giải thích rằng doanh nghiệp chất lượng tốt phát hành nợ ngắn hạn hoặc tăng nợ để phát tín hiệu tích cực về triển vọng tương lai.
- Lý thuyết sự phù hợp (Maturity Matching Theory): Do Morris (1976) và Myers (1977) đề xuất, nhấn mạnh kỳ hạn của nguồn tài trợ phải tương thích với kỳ hạn của tài sản nhằm hạn chế rủi ro tái tài trợ và thanh khoản.
- Lý thuyết dựa vào thuế (Tax-based Theory): Do Brick & Ravid (1985, 1991) nghiên cứu, chỉ ra rằng cấu trúc kỳ hạn lãi suất dốc lên thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng nợ dài hạn để tối đa hóa giá trị hiện tại của tấm chắn thuế.
- Môi trường thể chế: Khung phân tích bổ sung vai trò của quyền sở hữu tài sản, mức độ bảo hộ pháp lý, cải cách hành chính và tính minh bạch thị trường theo các báo cáo GCI, CPIA, EBDI.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính:
-
Phương pháp định lượng:
- Sử dụng dữ liệu bảng cân bằng giai đoạn 2008–2017 (70 doanh nghiệp, 700 quan sát).
- Áp dụng phương pháp ước lượng mômen tổng quát hệ thống (System GMM - Sys-GMM) của Blundell & Bond để khắc phục hiện tượng nội sinh của các biến độc lập trễ, hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan trong mô hình cấu trúc vốn và kỳ hạn nợ động.
- Sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng dữ liệu bảng (Panel Threshold Regression - PTR) của Hansen (1999) để xác định ngưỡng phi tuyến của cấu trúc vốn mục tiêu và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu đối với giá trị doanh nghiệp.
- Phần mềm xử lý dữ liệu: Stata phiên bản 14.0.
- Các kiểm định kinh tế lượng: kiểm định đa cộng tuyến (VIF), kiểm định Arellano - Bond đối với tự tương quan sai số bậc 1 và bậc 2 (AR(1), AR(2)), và kiểm định Hansen/Sargan về tính hợp lệ của các biến công cụ.
-
Phương pháp định tính:
- Sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia (phỏng vấn sâu các chuyên gia trong lĩnh vực bất động sản) nhằm đối chiếu, lý giải và bổ sung cơ sở thực tiễn cho các hệ số ước lượng thu được từ mô hình toán.
- Phân tích nội dung (content analysis), thống kê mô tả, phương pháp so sánh và diễn dịch logic.
-
Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu vi mô: Báo cáo tài chính kiểm toán thường niên của 70 công ty BĐS công bố trên cổng thông tin của HOSE và HNX.
- Dữ liệu vĩ mô và thể chế: Thu thập từ cơ sở dữ liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Thomson Reuters Datastream.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Bối cảnh và tổng quan các đề tài nghiên cứu có liên quan
Chương 1 phác thảo bức tranh tổng thể về thị trường BĐS Việt Nam và hệ thống hóa tài liệu học thuật. Tác giả chỉ ra các giai đoạn thăng trầm của thị trường gắn liền với tiến trình hoàn thiện khung pháp lý và sự điều hành chính sách tiền tệ. Số liệu giai đoạn 2008–2017 phản ánh thực trạng suy giảm năng lực tài chính: tốc độ tăng trưởng doanh thu giảm 0,1%/năm; lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) sụt giảm với tốc độ bình quân 1,91%/năm.
| Chỉ tiêu tài chính trung bình (2008–2017) |
Giá trị thực tế |
| Tốc độ tăng quy mô nguồn vốn bình quân |
23,87%/năm |
| Tỷ lệ Nợ phải trả / Tổng nguồn vốn |
53,57% |
| Tỷ lệ Nợ ngắn hạn / Tổng nợ phải trả |
60,22% |
| Tốc độ suy giảm khả năng thanh khoản |
15,00%/năm |
| Tỷ lệ doanh nghiệp mất cân đối tài chính |
44,28% |
| Tỷ lệ doanh nghiệp dùng nợ vượt ngưỡng mục tiêu |
40,00% |
| Tỷ lệ doanh nghiệp dùng nợ dài hạn dưới ngưỡng mục tiêu |
74,29% |
Chương này cũng phân loại chi tiết các công trình nghiên cứu đi trước về các yếu tố quyết định cấu trúc vốn, cấu trúc kỳ hạn nợ, tốc độ điều chỉnh động và xác định 4 khoảng trống nghiên cứu cốt lõi mà luận án tập trung giải quyết.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết các lý thuyết tài chính hiện đại (MM, TOT, POT, chi phí đại diện, tín hiệu, sự phù hợp, lý thuyết dựa vào thuế) và bổ sung lý thuyết thể chế. Từ cơ sở đó, tác giả xây dựng hệ thống các giả thuyết nghiên cứu và thiết lập mô hình nghiên cứu thực nghiệm dạng động.
Hệ thống biến số chính được xác định bao gồm:
- Biến phụ thuộc: Cấu trúc vốn (LEV = Tổng nợ / Tổng tài sản); Cấu trúc kỳ hạn nợ (MAT = Nợ dài hạn có chi phí lãi vay / Tổng nợ).
- Biến vi mô nội tại: Quy mô doanh nghiệp (SIZE, logarit tổng tài sản), Khả năng sinh lời (ROE), Khả năng thanh khoản (LIQ, tài sản ngắn hạn / nợ ngắn hạn), Cơ hội tăng trưởng (GRO, phần trăm thay đổi doanh thu), Cơ cấu tài sản (TANG, tài sản cố định / tổng tài sản), Kỳ hạn tài sản (AMR), Thuế thu nhập doanh nghiệp thực tế (TAX), Rủi ro kinh doanh (RISK, độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lời).
- Biến vĩ mô và thể chế: Thể chế (INST, đo lường qua các chỉ số quản trị/năng lực cạnh tranh), Tăng trưởng kinh tế (GDP), Tỷ lệ lạm phát (INF), Phát triển tài chính (FD), Cấu trúc kỳ hạn lãi suất (TERM).
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu, từ khâu lọc mẫu dữ liệu bảng cân bằng (chọn 70 doanh nghiệp niêm yết đủ tiêu chuẩn có báo cáo liên tục 10 năm) đến xây dựng phương trình ước lượng:
- Phương trình hồi quy động Sys-GMM hai bước kiểm định tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn và kỳ hạn nợ:
$$LEV_{it} = \alpha + (1 - \lambda) LEV_{it-1} + \beta X_{it} + \varepsilon_{it}$$
Trong đó $\lambda$ là tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng về mức mục tiêu. Phương trình tương tự được thiết lập cho biến cấu trúc kỳ hạn nợ ($MAT_{it}$) với hệ số điều chỉnh là $\delta$.
- Phương trình hồi quy ngưỡng PTR của Hansen (1999) nhằm xác định giá trị ngưỡng đòn bẩy ($LEV^$) và ngưỡng kỳ hạn ($MAT^$) tại điểm mà mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và giá trị doanh nghiệp (ROA/Tobin's Q) có sự chuyển biến cấu trúc.
- Quy trình phỏng vấn chuyên gia định tính gồm các chuyên gia tài chính và nhà quản lý cấp cao trong ngành BĐS để thẩm định kết quả định lượng.
Chương 4: Kết quả và bàn luận nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, kinh doanh bất động sản tại Việt Nam
Chương 4 công bố kết quả tính toán định lượng bằng Stata 14.0 và bàn luận chi tiết:
| Yếu tố tác động |
Chiều hướng tác động đến Cấu trúc vốn (LEV) |
Chiều hướng tác động đến Cấu trúc kỳ hạn nợ (MAT) |
| Thể chế (INST) |
Nghịch chiều (-) |
Nghịch chiều (-) |
| Quy mô doanh nghiệp (SIZE) |
Thuận chiều (+) |
Thuận chiều (+) |
| Cơ cấu tài sản (TANG) |
Thuận chiều (+) |
Không có ý nghĩa thống kê |
| Cơ hội tăng trưởng (GRO) |
Thuận chiều (+) |
Tác động yếu / Không đáng kể |
| Thuế TNDN (TAX) |
Thuận chiều (+) |
Tác động yếu / Không đáng kể |
| Khả năng thanh khoản (LIQ) |
Nghịch chiều (-) |
Thuận chiều (+) |
| Khả năng sinh lời (ROE) |
Nghịch chiều (-) |
Tác động yếu / Không đáng kể |
| Rủi ro kinh doanh (RISK) |
Tác động yếu / Không đáng kể |
Thuận chiều (+) |
| Kỳ hạn tài sản (AMR) |
Tác động yếu / Không đáng kể |
Tác động yếu / Không đáng kể |
| Phát triển tài chính (FD) |
Nghịch chiều (-) |
Thuận chiều (+) |
| Tăng trưởng kinh tế (GDP) |
Nghịch chiều (-) |
Không có ý nghĩa rõ rệt |
| Lạm phát (INF) |
Không có ý nghĩa rõ rệt |
Thuận chiều (+) |
| Kỳ hạn lãi suất (TERM) |
Không có ý nghĩa rõ rệt |
Thuận chiều (+) |
Các chỉ số ước lượng trọng tâm:
- Tốc độ điều chỉnh: Tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn đạt 24,87%/năm; tốc độ điều chỉnh cấu trúc kỳ hạn nợ đạt 25,92%/năm.
- Tác động qua lại: Cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ có tác động thuận chiều (+) với nhau. Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô vay nợ, họ có xu hướng kéo dài kỳ hạn nợ nhằm giảm áp lực thanh khoản. Trình tự tối ưu hóa là doanh nghiệp xác lập cấu trúc vốn mục tiêu trước, sau đó điều chỉnh kỳ hạn nợ thích ứng.
- Ngưỡng mục tiêu:
- Ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu được xác định tại mức 69,68% (tổng nợ/tổng tài sản). Mẫu nghiên cứu có 40% doanh nghiệp vượt ngưỡng này.
- Ngưỡng cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu được xác định tại mức 57,90% (nợ dài hạn/tổng nợ). Mẫu nghiên cứu có 37,14% doanh nghiệp vượt ngưỡng và 74,29% doanh nghiệp nằm dưới mức tối ưu này.
Chương 5: Kết luận và gợi ý các chính sách
Chương 5 tóm lược các phát hiện thực nghiệm và đề xuất ba nhóm khuyến nghị chính sách:
- Nâng cao hiệu quả quản trị tài chính nội bộ: Doanh nghiệp cần chủ động cơ cấu lại các khoản nợ vay, cân đối kỳ hạn nợ với vòng đời thực hiện dự án BĐS, kiểm soát tỷ lệ đòn bẩy dưới mức 69,68% để tránh rủi ro kiệt quệ tài chính.
- Chính sách điều chỉnh cấu trúc nợ theo ngưỡng mục tiêu: Từng bước nâng tỷ trọng nợ dài hạn hướng tới ngưỡng 57,90%, giảm thiểu sự phụ thuộc vào tín dụng ngắn hạn ngân hàng thông qua đa dạng hóa nguồn tài trợ như phát hành trái phiếu doanh nghiệp dài hạn hoặc hợp tác đầu tư.
- Khuyến nghị vĩ mô và hoàn thiện thể chế: Cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục minh bạch hóa khung pháp lý thị trường BĐS, rút ngắn thủ tục hành chính liên quan đến cấp phép dự án, hoàn thiện cơ chế xếp hạng tín nhiệm và phát triển thị trường vốn trung, dài hạn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Kiểm chứng tính tương thích của hệ thống lý thuyết tài chính hiện đại (MM, TOT, POT, lý thuyết chi phí đại diện, tín hiệu, sự phù hợp, lý thuyết dựa vào thuế) trong môi trường ngành BĐS tại một thị trường mới nổi như Việt Nam.
- Khẳng định sự tồn tại của mô hình đánh đổi động trong việc giải thích hành vi điều chỉnh cấu trúc vốn và kỳ hạn nợ của doanh nghiệp.
- Cung cấp cơ sở lý luận khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa đòn bẩy tài chính và kỳ hạn nợ, đồng thời xác lập nguyên lý ưu tiên lựa chọn mức nợ trước khi tối ưu hóa kỳ hạn nợ.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Lượng hóa chính xác tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn (24,87%/năm) và tốc độ điều chỉnh kỳ hạn nợ (25,92%/năm) của các doanh nghiệp BĐS niêm yết tại Việt Nam.
- Xác định giá trị cụ thể của ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu (69,68%) và ngưỡng kỳ hạn nợ mục tiêu (57,90%) bằng kỹ thuật hồi quy ngưỡng phi tuyến Hansen (1999).
- Chứng minh thực nghiệm vai trò kìm hãm của rủi ro thể chế đối với việc mở rộng quy mô nợ và kéo dài kỳ hạn nợ của doanh nghiệp BĐS.
- Cung cấp số liệu cụ thể phản ánh thực trạng sử dụng đòn bẩy: 40% doanh nghiệp vượt ngưỡng an toàn về cấu trúc vốn và 74,29% doanh nghiệp chưa khai thác đủ tỷ lệ nợ dài hạn tối ưu, làm căn cứ thực tế để các nhà quản trị tái cấu trúc danh mục nợ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp hồi quy dữ liệu bảng động Sys-GMM kết hợp với mô hình hồi quy ngưỡng phi tuyến PTR (Hansen, 1999) trên phần mềm Stata 14.0.
- Nhà quản trị tài chính tại các doanh nghiệp BĐS: Cung cấp các mốc định lượng cụ thể (ngưỡng nợ 69,68% và nợ dài hạn 57,90%) để thiết lập hạn mức đòn bẩy, tái cấu trúc kỳ hạn danh mục nợ, tránh tình trạng mất cân đối thanh khoản do dùng nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn.
- Ngân hàng thương mại và các tổ chức cấp tín dụng: Cung cấp tiêu chí định lượng về cơ cấu vốn an toàn để đánh giá rủi ro tín dụng khi thẩm định các dự án đầu tư BĐS.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của thể chế và cung ứng vốn trung, dài hạn, hỗ trợ việc điều hành chính sách tiền tệ và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch.
Câu hỏi thường gặp
1. Tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp BĐS trong luận án được xác định là bao nhiêu?
Theo kết quả ước lượng bằng phương pháp Sys-GMM, tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn hướng về ngưỡng mục tiêu của các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, kinh doanh BĐS tại Việt Nam là 24,87%/năm, và tốc độ điều chỉnh cấu trúc kỳ hạn nợ hướng về ngưỡng mục tiêu là 25,92%/năm.
2. Ngưỡng cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu của các doanh nghiệp BĐS được xác định ở mức nào?
Bằng mô hình hồi quy ngưỡng PTR của Hansen (1999), luận án xác định:
- Ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu (Tổng nợ / Tổng tài sản) là 69,68%. Khi vượt quá ngưỡng này, đòn bẩy tài chính sẽ tác động tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp.
- Ngưỡng cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu (Nợ dài hạn có chi phí lãi vay / Tổng nợ) là 57,90%.
3. Yếu tố thể chế tác động như thế nào đến quyết định cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ?
Kết quả thực nghiệm cho thấy yếu tố thể chế có tác động nghịch chiều (-) đến cả việc lựa chọn cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ của các doanh nghiệp BĐS. Tại môi trường thể chế có chất lượng quản trị thấp, tính minh bạch chưa cao và pháp lý BĐS phức tạp, các doanh nghiệp gặp trở ngại trong việc tiếp cận các nguồn nợ dài hạn và có xu hướng giảm quy mô nợ vay chính thức.
4. Mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ được luận án kết luận ra sao?
Luận án cung cấp bằng chứng cho thấy tồn tại mối quan hệ tác động thuận chiều (+) giữa cấu trúc vốn và cấu trúc kỳ hạn nợ. Doanh nghiệp khi sử dụng đòn bẩy nợ cao sẽ gia tăng tỷ trọng nợ dài hạn để kiểm soát rủi ro thanh khoản và giảm nguy cơ kiệt quệ tài chính. Về mặt trình tự ra quyết định, doanh nghiệp BĐS cần xác định cấu trúc vốn mục tiêu trước, sau đó điều chỉnh kỳ hạn nợ để đạt ngưỡng cấu trúc kỳ hạn nợ mục tiêu.
5. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ nguồn nào và gồm bao nhiêu quan sát?
Luận án sử dụng dữ liệu bảng cân bằng thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán của 70 doanh nghiệp đầu tư xây dựng, kinh doanh BĐS niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX trong khoảng thời gian 10 năm liên tục từ 2008 đến 2017, tương ứng với 700 quan sát. Dữ liệu vĩ mô và thể chế được trích xuất từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Datastream.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Vân Trinh đã giải quyết toàn diện bốn bài toán tài chính cốt lõi của các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, kinh doanh BĐS niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2008–2017: xác định các nhân tố ảnh hưởng (nổi bật là vai trò nghịch chiều của thể chế), đo lường tốc độ điều chỉnh động (24,87% và 25,92%/năm), kiểm định mối quan hệ tương hỗ thuận chiều giữa đòn bẩy và kỳ hạn nợ, đồng thời lượng hóa chính xác ngưỡng mục tiêu tối ưu (69,68% cho cấu trúc vốn và 57,90% cho kỳ hạn nợ). Các kết quả này cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng ủng hộ các lý thuyết tài chính hiện đại trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi, đồng thời là cơ sở thực chứng giá trị giúp các doanh nghiệp BĐS cơ cấu lại nợ vay và hỗ trợ cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách thị trường vốn.