phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng cấu trúc vốn của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.
Hồ Chí Minh. Khuyến nghị về cấu trúc vốn các công ty ngành xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, các nhà nghiên cứu tiền nhiệm đã thực hiện khá nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc vốn bằng cách áp dụng các mô hình kinh tế lƣợng để khám phá các yếu tố tác động đến cơ cấu vốn của các doanh nghiệp. Hầu hết các nghiên cứu hiện tại tập trung vào việc nghiên cứu cấu trúc vốn dƣới góc độ quản lý và sử dụng các phƣơng pháp tiếp cận đa dạng, từ đó rút ra những kết luận đa chiều. Modigliani và Miller (1958) đã tiến hành một nghiên cứu xem xét sự ảnh hƣởng của cấu trúc vốn đối với giá trị của doanh nghiệp trong môi trƣờng thị trƣờng hoàn hảo, trong đó không có thuế, thông tin cân xứng giữa các bên, và không có rủi ro phá sản.
Kết quả cho thấy giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn của nó. Sau đó, vào năm 1963, Modigliani và Miller tiếp tục phát triển nghiên cứu với việc bỏ qua giả định về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Họ kết luận rằng khi TNDN tồn tại, giá trị của doanh nghiệp khi sử dụng nợ sẽ vƣợt qua giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ. Tóm lại, họ cho rằng giá trị của doanh nghiệp sẽ đạt tối đa khi doanh nghiệp đƣợc tài trợ 100% bằng nợ.
Đây là một phần trong lịch sử quan trọng của lý thuyết tài chính, nhấn mạnh tầm quan trọng của cấu trúc vốn và ảnh hƣởng của nợ đối với giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhƣ thƣờng thấy trong nghiên cứu và thực tế, giả định về thị trƣờng hoàn hảo và các yếu tố liên quan không thể đƣợc coi là thực tế hoàn toàn, và vấn đề cấu trúc vốn vẫn có sự phức tạp và đa chiều hơn trong thực tế kinh doanh. 5 Pathak (2010) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định cấu trúc vốn thông qua khảo sát dữ liệu của 135 doanh nghiệp phi tài chính và các công ty không điều tiết tại Ấn độ trong giai đoạn 1990-2009. Kết quả của kiểm định cho thấy rằng cấu trúc tài sản, quy mô của doanh nghiệp và mức độ tăng trƣởng của nó có tƣơng quan dƣơng với cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Điều này có nghĩa là khi cấu trúc tài sản phức tạp hơn, quy mô của doanh nghiệp lớn hơn và tốc độ tăng trƣởng cao hơn, thì cấu trúc vốn của doanh nghiệp cũng càng phức tạp và mang tính chất gắn với nợ hơn. Trong khi đó, khả năng sinh lời của doanh nghiệp, mức độ rủi ro kinh doanh mà nó đối mặt và tính thanh khoản của tài sản có tƣơng quan âm với cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Điều này đề cập đến việc khi doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao, ít rủi ro kinh doanh và tài sản dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt, thì cấu trúc vốn của doanh nghiệp có xu hƣớng ít phụ thuộc vào nợ. Tác giả cũng nhận định rằng tính thanh khoản không phải là yếu tố quyết định đến chỉ tiêu nợ dài hạn/tổng tài sản, và yếu tố R&D cũng không phải là yếu tố quyết định đến cấu trúc vốn của các công ty nghiên cứu tại Ấn Độ.
Nghiên cứu của Abor (2008) đã tiến hành một phân tích so sánh về cấu trúc vốn giữa ba nhóm doanh nghiệp: công ty niêm yết, công ty lớn không niêm yết và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mẫu dữ liệu nghiên cứu bao gồm các công ty không niêm yết và các công ty đang niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Ghana Exchange (GSE) trong khoảng thời gian 6 năm, từ năm 1998 đến năm 2003. Tổng cộng, mẫu dữ liệu bao gồm 230 công ty, trong đó có 153 công ty có quy mô vừa và nhỏ (có ít hơn 100 nhân viên); 22 công ty đang niêm yết; và 55 công ty lớn không niêm yết. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy để điều tra các yếu tố quyết định đến cấu trúc vốn của từng nhóm công ty.
Mô hình hồi quy thƣờng đƣợc sử dụng để xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc. Trong trƣờng hợp này, 6 các biến độc lập có thể là quy mô công ty, mức độ niêm yết, số lƣợng nhân viên, và các biến tƣơng tự khác, trong khi biến phụ thuộc là cấu trúc vốn của các công ty. Từ các kết quả mô hình hồi quy, nghiên cứu có thể đƣa ra những phân tích và nhận định về mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đó đối với cấu trúc vốn của từng nhóm công ty, từ đó cung cấp thông tin quan trọng về quyết định tài chính của các doanh nghiệp trong các điều kiện thị trƣờng cụ thể. Kết quả phân tích thống kê mô tả cho biết trong tất cả các nhóm công ty nằm trong mẫu quan sát: nợ ngắn hạn chiếm một tỷ lệ tƣơng đối cao trong tổng số nợ.
Trong khi các công ty lớn không niêm yết có tỷ lệ nợ cao hơn đáng kể so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì giữa các công ty niêm yết và các công ty lớn không niêm yết lại không có sự khác biệt về cấu trúc vốn. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy rằng nhân tố: tuổi của doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, cơ cấu tài sản, lợi nhuận , rủi ro kinh doanh và quyền sở hữu cổ phần là các nhân tố có ảnh hƣởng đáng kể đến cấu trúc vốn của các công ty tại Ghana. Đối với các mẫu quan sát của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các yếu tố nhƣ tình trạng xuất khẩu, ngành công nghiệp, giới tính của doanh nhân, hình thức kinh doanh và vị thế của công ty cũng rất quan trọng trong việc giải thích sự lựa chọn cấu trúc vốn. Nghiên cứu của Banchuenvijit (2009) đã khảo sát 81 công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thái Lan trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến 2008.
Bằng cách áp dụng mô hình nghiên cứu với năm nhân tố khác nhau, bao gồm tỷ suất sinh lợi, quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ tài sản cố định so với tài sản hữu hình, tốc độ tăng trƣởng tài sản và sự biến động của lợi nhuận hoạt động, nghiên cứu đã kết luận rằng có ba nhân tố quan trọng có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Cụ thể, tỷ suất sinh lợi và tỷ lệ tài sản cố định so với tài sản hữu hình có mối quan hệ ngƣợc chiều với hệ số nợ của công ty. Điều này có nghĩa là khi tỷ suất sinh lợi hoặc tỷ lệ tài sản cố định tăng lên, hệ số nợ của 7 công ty có xu hƣớng giảm đi. Ngoài ra, quy mô của công ty lại có mối quan hệ cùng chiều với hệ số nợ.
Điều này đồng nghĩa với việc khi quy mô doanh nghiệp tăng lên, hệ số nợ cũng tăng theo. Tóm lại, nghiên cứu đã tìm ra mối liên hệ quan trọng giữa các nhân tố tài chính và cấu trúc vốn của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thái Lan, giúp hiểu rõ hơn về quyết định tài chính trong các doanh nghiệp và cách chúng ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn. Cũng nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, Wahab và Ramli (2014) đã sử dụng bộ dữ liệu của 13 trong tổng số 33 doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nƣớc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Malaysia trong giai đoạn 1997 - 2009. Bên cạnh những nhân tố bên trong của doanh nghiệp, nghiên cứu đã đƣa thêm các nhân tố vĩ mô nhƣ tốc độ tăng trƣởng, lãi suất và đặc điểm ngành.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với những nhân tố bên trong thì tỉ lệ tài sản hữu hình có mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ vay, trong khi quy mô, lợi nhuận, tính thanh khoản lại có quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ vay. Nhân tố vĩ mô bên ngoài là tốc độ tăng trƣởng kinh tế và lãi suất có mối quan hệ nghịch chiều với tỷ lệ nợ vay của doanh nghiệp có sở hữu Nhà nƣớc trên thị trƣờng chứng khoán Malaysia. Ek và Fjelkestam (2020) đã tiến hành kiểm định lý thuyết trật tự phân hạng trong quá trình chọn cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Thụy Điển trong giai đoạn 1995-2019, với một mẫu gồm 396 doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của họ, tác giả mong đợi rằng lý thuyết trật tự phân hạng sẽ giải thích tốt chính sách tài trợ nguồn vốn và giúp xác định các nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến quyết định về tài chính.
Tuy nhiên, kết quả kiểm định lý thuyết trật tự phân hạng không hỗ trợ cho quá trình quyết định lựa chọn nguồn vốn. Thay vào đó, nghiên cứu đã phát hiện rằng yếu tố quy mô của doanh nghiệp và tài sản thế chấp có tác động thuận chiều (+) đáng kể đến cấu trúc vốn. Trong khi đó, không có bằng chứng thống kê cho thấy các yếu tố 8 nhƣ cơ hội tăng trƣởng và cấu trúc vốn của năm trƣớc đó có mối quan hệ với nhau. Gần đây, Bal (2020) đã thực hiện một nghiên cứu khảo sát về các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp trong ngành xây dựng tại một số nƣớc khu vực Châu Âu và Trung Á, trong đó có 81 doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Phần Lan trong giai đoạn từ 1993 đến 2019.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã áp dụng phƣơng pháp ƣớc lƣợng ảnh hƣởng cố định (FEM) để đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố. Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về cấu trúc tài chính giữa các quốc gia, thậm chí là giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành. Điều đáng chú ý là nhân tố khả năng sinh lời và tính thanh khoản có ảnh hƣởng ngƣợc chiều đối với cấu trúc vốn, trong khi nhân tố quy mô không có ảnh hƣởng đáng kể đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp xây dựng tại Phần Lan.