Chương 1: Tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. Chương 2: Đặc điểm cấu trúc của từ láy trong tiếng Trung (Liên hệ với tiếng Việt). Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ láy trong tiếng Trung (Liên hệ với tiếng Việt). 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỪ VÀ CẤU TẠO TỪ TRONG TIẾNG TRUNG 1. Từ trong tiếng Trung Đơn vị ngữ pháp từ lớn đến nhỏ, lần lượt sắp xếp có câu, cụm từ, từ và từ tố. Câu do từ kết hợp lại mà thành.
Từ do từ tố cấu thành. Như vậy, có thể thấy, từ có vai trò rất quan trọng trong hệ thông ngữ pháp. Vậy từ là gì? Quan niệm của Lưu Thúc Tân lý giải: “Từ là đơn vị vật liệu xây dựng ngôn ngữ nhỏ nhất định hình vẹn tròn” [16, tr. Chu Đức Hy cho rằng:“Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có thể vận dụng độc lập và có ý nghĩa” [18 tr.
Ví dụ: Trong câu “Tôi là người Việt Nam”. Xét về từ, câu này có bốn từ: “tôi”,“là”,“người”,“Việt Nam”. “Tôi”, “là”, “người”, và “Việt Nam” là những đơn vị đặt câu nhỏ nhất. Trong đó,“Việt Nam” là một từ có hai âm tiết và không thể tiếp tục phân chúng thành những từ nhỏ hơn.
Từ “Việt Nam” có khả năng đứng độc lập trong câu, ví dụ như: “Một Việt Nam mới được xây dựng lên” hay “diện mạo mới của Việt Nam”…, chúng ta có thể nhận thấy từ “Việt Nam” có thể đứng độc lập, có ý nghĩa riêng của mình. Như vậy, từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có vỏ ngữ âm bền vững, có kết cấu hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu. Từ tố Ở phần trên, chúng tôi đã đưa ra từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa để tạo câu, từ được cấu tạo bằng các từ tố. Vậy từ tố là gì ? Tề Hộ Dương quan niệm:“Từ tố có chứa ngữ âm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và ngữ nghĩa, là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất” [34, tr.
Lữ Thức Tương có nhận định: “Từ tố là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, có chứa ngữ âm và ngữ nghĩa” [17, tr. Ví dụ: “Tôi là người Việt Nam” là một câu gồm 4 từ và 5 từ tố là: “tôi”, “là”, “người”, “Việt ”, “Nam”, mỗi từ tố đều có cách đọc riêng và nghĩa âm riêng. Từ tố có 1 điểm là không thể chia tiếp ra thành những phần nhỏ hơn nữa. Từ góc độ cấu tạo, từ có thể chia thành ba loại: từ đơn âm tiết, từ hai âm tiết và từ đa âm tiết.
Đa số từ của tiếng Hán hiện đại đều là đơn âm tiết, được biểu thị bằng một chữ Hán. Ví dụ: “水-thủy (nước), 地- địa (đất), 渴-khát (khát)” … Từ hai âm tiết, được biểu thị bằng hai chữ Hán. Ví dụ: “钥匙- thược thi (chìa khóa),娓娓- vĩ vĩ (rủ rỉ), 味精- vị tinh (mì chính)’,. Vì “:钥- thược” “匙- thi”, “娓-vĩ” “娓-vĩ”, “味-vị” “精- tinh” là các từ tố không có ý nghĩa.
Từ đa âm tiết, được biểu thị bằng trên ba chữ Hán. Ví dụ: “阿拉伯-a lạp bá (a rập), 阿司匹林-a tư phi lâm (thuốc Aspirin), 唉声 叹气-ai thanh thán khí (thở than)”. Vì “阿-a” “拉- lạp” “伯- bá”, “阿-a” “司- tư” “匹-phi” “林- lâm”, “唉-ai” “声-thanh” “-thán” “气-khí” chia nhau cũng không có ý nghĩa. Cho nên, trong tiếng Hán, hai âm tiết không có nghĩa muốn tạo nên 1 từ thì cần phải có quan hệ ngữ âm; cũng như vậy, nhiều âm tiết không có nghĩa muốn tạo nên 1 từ thì cũng phải có quan hệ ngữ âm.
Vậy từ tố là đơn vị nhỏ nhất trong ngữ pháp, là thể kết hợp ngữ âm nhỏ nhất trong ngôn ngữ. Từ góc độ tạo từ, có thể chia từ tố thành từ tố thành từ và từ tố không thành từ. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tề Hộ Dương cho rằng: “Từ tố có thể tạo thành từ là từ tố thành từ” [34, tr. Ví dụ như từ “xấu”, “lên”, “về” có thể dùng một chữ hán để biểu đạt, cũng có thể kết hợp thêm với các từ tố khác để cấu thành từ.
Giống như từ “xấu” bản thân nó là 1 từ, ví dụ như: nó rất xấu, “xấu” là 1 từ mang nghĩa tiêu cực, “xấu” kết hợp thêm từ tố khác tạo nên “người xấu”, “xấu xa”. Như cái tên của nó, từ tố không thể cấu thành từ là từ tố không thành từ. Ví dụ như “chúng” không phải là một từ, phải kết hợp với cái từ tố khác mới thành từ. “Chúng” và “dân” sẽ tạo nên “dân chúng”, mới tạo thành từ có nghĩa, “chúng” và “quần” cũng ghép lại với nhau mới thành từ có nghĩa.
Quan hệ giữa từ tố và từ Theo Tiền Ngọc Liên trong cuốn “Giảng nghĩa từ vựng Hán ngữ hiện đại” thì: “Từ là đơn vị cấu tạo từ có ý nghĩa - đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất do từ tố cấu thành” [19, trang. Chu Đức Hy trong cuốn “Giảng nghĩa ngữ pháp” cho rằng: “Từ tố là đơn vị ngữ pháp cơ bản nhất. Từ là đơn vị ngôn ngữ lớn hơn một bậc so với từ tố” [18, tr. Từ các quan niệm trên đều có thể nhận định rằng: Từ chính là đơn vị ngôn ngữ dùng để đặt câu, từ tố là đơn vị ngôn ngữ dùng để tạo từ.
Từ tố có thể là một từ, cũng có thể là một bộ phận của từ. Về mặt cấu trúc, từ có thể là gồm một từ tố, cũng có thể hơn một từ tố. Vậy từ được cấu tạo bằng từ tố. Về ngữ âm, sau khi cấu thành ngữ tố, âm đọc của từ tố đôi khi có sự khác nhau, ví dụ: Như từ tố “数”, có thể đọc thành “shù”, với một từ tố khác “量” ghép thành “数量-shù liàng (số lượng)”, còn có thể đọc thành“shŭ”, với một từ tố khác 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “数”ghép thành “数数-shŭ shù (đếm số).
Như từ tố “发”, với một từ tố khác “展” ghép thành“发展-fā zhăn (phát triển)”, với một từ tố “头”ghép thành “头发-tóu fà (tóc)”. Về ý nghĩa, mỗi từ tố đơn âm tiết có ý nghĩa độc lập, hai từ tố đơn âm tiết có thể cấu thành một từ. Ý nghĩa của từ mới này không phải là ý nghĩa gộp lại của 2 từ tố đơn âm tiết mà là sự cộng hưởng của 2 ngữ tố đơn âm tiết tạo nên một ý nghĩa mới. Ví dụ như: “Hoa hồng” ý nghĩa của “Hoa hồng” không phải chỉ màu của hoa là hồng, mà là một loại hoa.
Sự khác biệt lớn nhất của từ và từ tố là từ có thể sử dụng độc lập, còn từ tố chỉ là yếu tố cấu thành từ. Cấu tạo từ trong tiếng Trung Tiếng Trung có lịch sử lâu đời, phương thức cấu tạo từ đa dạng và phong phú. Trước năm 1950, sự nghiên cứu của cấu tạo từ còn ít. Bước vào thập niên 90, cấu tạo từ mới được đi sâu vào nghiên cứu.
Ở Trung Quốc việc nghiên cứu cấu tạo từ tiếng Trung bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 trong công trình “Mã Thị Thông Văn”. Từ đây các nhà nghiên cứu bắt đầu tiến hành phân loại phương thức kết cấu của từ hai âm tiết tiếng Trung. Sự phát triển của cấu tạo từ tiếng Trung là theo hướng từ đơn âm tiết đến từ đa âm tiết. Phương thức của từ tố cấu thành từ là phương thức kết cấu của từ, tức là cấu tạo từ.
Phân tích kết cấu của từ cụ thể, có thể chính xác nhận xét và nắm bắt được thành phần kết cấu của từ và ngữ nghĩa của từ. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Từ đơn Từ có thể chia thành ba loại, loại thứ nhất là từ đơn, loại thứ hai là từ phức, loại thứ ba là từ viết tắt. Trong luận văn này chúng tôi không phân tích từ viết tắt.
Tề Hộ Dương định nghĩa từ đơn như sau: “Từ do một từ tố cấu thành được gọi là từ đơn” [34, tr. Hoàng Bá Vinh, Liêu Tự Đông nói:“Từ đơn là do một từ tố cấu thành” [24, tr. Từ đơn có thể chia thành ba loại, loại thứ nhất là từ đơn đơn âm tiết , loại thứ hai là từ đơn hai âm tiết, loại thứ ba là từ đơn đa âm tiết. Từ đơn đơn âm tiết:大-đại (to, lớn), 书-thư (sách), 天-thiên (trời), 地-địa (đất),.
Chúng tôi biết được như “大-đại (to, lớn), 书-thư (sách), 天-thiên (trời),. vừa là 成词语素, vừa là từ. Từ đơn hai âm tiết: 仿佛-phản phật (dường như, hình như), 葡萄-bồ đào (quả nho), … là từ đơn, do hai âm tiết cấu thành. Từ đơn đa âm tiết:电话簿-điện hoại bộ (danh bạ điện thoại), 爱国主义-ái quốc chủ nghĩa (chủ nghĩa yêu nước), 益母草-ích mẫu thảo(cỏ ích mẫu),.
là do đa âm tiết cấu thành. Tác dụng của âm tiết trong hai âm tiết và đơn âm tiết là ghi âm, các âm tiết đều không có ý nghĩa, chỉ khi lặp lại âm tiết đó 2 lần mới diễn đạt ra ý nghĩa. Phương thức điệp âm Tề Hộ Dương quan niệm:“Hai âm tiết trùng điệp mà cấu thành từ gọi là phương thức điệp âm” [34, tr. Lý Kiến Đình thừa nhận: “Hai âm tiết trùng điệp mà cấu thành từ gọi là từ điệp âm ” [35].
Từ định nghĩa chúng ta có thể thấy được: điệp âm cần đáp ứng 2 điều kiện mới có thể là từ điệp âm: a) cần có 2 âm tiết, b) hai âm tiết phải giống nhau. Đa số đơn âm tiết của điệp âm đều không có ý nghĩa, ví dụ: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com như “粑粑-ba ba (bánh)” “呖呖-lịch lịch (véo von)” “涓涓-quyên quyên (nước chảy lờ đờ)”,. nhưng có trường hợp khác nhau, như “奶奶-nãi nãi (bà nội)”, từ “奶- nãi” trong “奶奶-nãi nãi” ý nghĩa là “sữa”, nhưng ý nghĩa của“奶奶-nãi nãi” lại là “bà nội”. Ý nghĩa của hai từ là hoàn toàn khác nhau.
“奶奶-nãi nãi” là do từ đồng âm“奶-nãi” cấu tạo thành. Đặc điểm của từ điệp âm là âm tiết giống nhau, chữ hán giống nhau, hai chữ hán phải liên kết lại thì mới biểu đạt được ý nghĩa hoàn chỉnh, một chữ hán sẽ không có ý nghĩa. Từ phiên âm Từ phiên âm là những từ tiếng nước ngoài được biến đổi cách đọc sao cho gần giống hoặc tương đồng với tiếng Hán nhằm mục đích biến chúng trở thành những từ đơn giản và được sử dụng nhiều trong cuộc sống. Trong những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học thì người ta thường gọi đó là những từ vay mượn.
Hạ Hành Tri trong bài “Cách nhìn nhận và ứng phó với sự thẩm thấu của từ ngoại lai trong tiếng Hán” nói: “Một loại ngôn ngữ có một số từ nhất định có xuất sứ từ ngôn ngữ khác được gọi là từ vay mượn, hay là từ dịch âm” [21].