chương 1, tác giả trình bày những vấn đề cơ bản của luận văn gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của luận văn. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Trong chương 2, tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây và những lý thuyết liên quan đến đề tài “Cấu trúc quyền sở hữu, khả năng giành quyền kiểm soát và kỳ hạn nợ của công ty”. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu của đề tài nghiên cứu Trong chương 3, tác giả trình bày chi tiết đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Trong chương 4, tác giả thực hiện các phân tích nhằm xem xét ảnh hưởng của cấu trúc quyền sở hữu lên kỳ hạn nợ của công ty.
Chương 5: Kết luận Trong chương 5, tác giả đúc kết lại các kết quả nghiên cứu, đề xuất những kiến nghị, đưa ra những hạn chế của bài nghiên cứu và hướng phát triển cho các nghiên cứu sau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Cơ sở lý thuyết Như trong phần giới thiệu tác giả đã trình bày rằng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tính tư lợi mà chủ sở hữu kiểm soát đã làm chuyển nguồn lực của công ty thông qua chi phí của các cổ đông khác. Vấn đề này nảy sinh là do có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền kiếm soát trong các công ty.
Và vì sự phân tách này mà xuất hiện vấn đề đại diện và chi phí đại diện của việc kiểm soát. Chi phí đại diện bao gồm tất cả các chi phí mà các cổ đông không kiểm soát phải gánh chịu bao gồm cả những mất mát do tính tư lợi của chủ sở hữu kiểm soát. Cùng với việc trình bày cách tiếp cận khác nhau về cấu trúc sở hữu để xem xét tác động của cấu trúc sở hữu đến các yếu tố tài chính, quản trị trong doanh nghiệp của những nghiên cứu trước, tác giả cũng trình bày các lý thuyết về vấn đề đại diện, chi phí đại diện, và vấn đề bất cân xứng thông tin để làm rõ hơn những vấn đề được trình bày. Cấu trúc sở hữu Dựa trên cơ cấu và trách nhiệm của các thành viên tham gia góp vốn, Luật Doanh nghiệp 2014 (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2014) có quy định các loại hình doanh nghiệp như sau: - Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. - Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Là doanh nghiệp có từ 2 đến 50 thành viên góp vốn, các thành viên có thể là tổ chức hay cá nhân. Các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
- Công ty cổ phần: Là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông (chủ sở hữu những cổ phần) có thể là tổ chức, cá nhân. Số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông chỉ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu về vấn về cấu trúc sở hữu, các tác giả đã đi sâu hơn về đặc điểm của chủ sở hữu trong cấu trúc sở hữu như Jensen and Meckling (1976) xem xét cấu trúc sở hữu bao gồm các nhà đầu tư bên trong là những nhà quản lý và nhà đầu tư bên ngoài là những chủ sở hữu không quản lý và chủ nợ. Trong khi đó, một số nghiên cứu phân loại cấu trúc sở hữu theo tỷ lệ sở hữu theo một đối tượng cụ thể nào đó như nhà quản lý (sở hữu của nhà quản lý), tổ chức (sở hữu thuộc tổ chức), nhà nước (sở hữu nhà nước), gia đình (sở hữu gia đình), nhà đầu tư nước ngoài (sở hữu nước ngoài) … Fazlzadeh (2011) lại xem xét cấu trúc sở hữu ở khía cạnh quản trị của các chủ sở hữu, phân loại cấu trúc sở hữu thành sở hữu phân tán và sở hữu tập trung. - Cấu trúc sở hữu tập trung: Là loại cấu trúc sở hữu trong đó, cả quyền sở hữu và quyền kiểm soát tập trung trong tay một số cá nhân, gia đình, một nhóm người có liên quan hoặc một tổ chức nào đó. Những cổ đông lớn đồng thời nằm trong ban quản lý điều hành doanh nghiệp.
- Cấu trúc sở hữu phân tán: Quyền sở hữu doanh nghiệp được nắm giữ bởi rất nhiều cổ đông, mỗi cổ đông sở hữu một lượng cổ phần của doanh nghiệp. Quyền kiểm soát hoạt động doanh nghiệp do ban giám đốc nắm giữ. Ở hầu hết các quốc gia, các công ty được niêm yết chính thức trên các sàn giao dịch chứng khoán thì có cấu trúc sở hữu tập trung hơn là cấu trúc sở hữu phân tán. La Porta et al.
(1998,1999) tìm thấy rằng với mẫu 49 quốc gia, trung bình tỷ lệ sở hữu của 3 cổ đông lớn nhất là 46%. Tại ngưỡng 10%, tỷ lệ sở hữu của mẫu gồm 27 quốc gia giàu nhất thế giới cho thấy rằng 52% các doanh nghiệp quy mô trung bình là được sở hữu bởi cá nhân hay gia đình. Đặt nền móng đầu tiên trong nghiên cứu về cấu trúc sở hữu đối với tài chính doanh nghiệp, Jensen và Meckling (1976) chỉ ra rằng cấu trúc sở hữu tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể rằng với doanh nghiệp có nhiều cổ đông lớn sẽ tăng hiệu quả hoạt động và giá trị của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Bài nghiên cứu này tác giả cũng xem xét cấu trúc sở hữu dựa trên ý tưởng của Jensen và Meckling (1976) và của Ben-Nars và cộng sự (2015), xem xét có hay không doanh nghiệp có cấu trúc nhiều cổ đông lớn (doanh nghiệp có nhiều hơn một cổ đông sở hữu ít nhất 10%) tác động đến kỳ hạn nợ của chính doanh nghiệp đó.
Kỳ hạn nợ 2. Định nghĩa kỳ hạn nợ Theo khoản 9, điều 2 của thông tư số 39/2016/TT- NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 (Ngân hàng nhà nước Việt Nam, 2016), thông tư Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì: “Kỳ hạn trả nợ là các khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã thỏa thuận mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay cho tổ chức tín dụng”. Các lý thuyết về kỳ hạn nợ Theo Michael J. Barclay và Clifford W.
Smith (1995) một bộ ba giả thuyết không loại trừ nhau đã được đưa ra để giải thích về kỳ hạn nợ của công ty đó là: Lý thuyết hợp đồng- chi phí, lý thuyết về sự phát tín hiệu, và lý thuyết về thuế. Lý thuyết về hợp đồng- chi phí - Một chuỗi những cơ hội đầu tư: Myers (1997) cho rằng những cơ hội đầu tư tương lai của doanh nghiệp cũng giống như những quyền chọn. Giá trị của những quyền chọn này phụ thuộc vào khả năng mà doanh nghiệp thực hiện quyền chọn này một cách chính thức. Những yêu sách với rủi ro cố định trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp, những lợi nhuận từ những dự án đầu tư sinh lợi là nguyên nhân chia rẽ giữa những cổ đông và những trái chủ.
Trong một vài trường hợp, những trái chủ giành được đủ nguồn lợi mà một dự án sinh lợi không đem lại cho những cổ đông một mức lợi nhuận thông thường. Trong những trường hợp này, những cổ đông có động cơ từ bỏ dự án, trong khi dự án có NPV dương. Myer gọi đây là vấn đề đầu tư dưới mức “underinvest- ment problem”. Với nhiều hơn sự lựa chọn nhằm tăng trưởng trong chuỗi những cơ hội đầu tư của doanh nghiệp, những xung đột giữa những cổ đông và những trái chủ qua việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thực hiện những cơ hội này thì lớn hơn.
Myers cho rằng doanh nghiệp có thể kiểm soát vấn đề về động cơ đầu tư này bằng một vài cách như sau: Bằng việc sử dụng nợ ít hơn trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp, bằng những điều khoản giới hạn trong những hợp đồng thỏa thuận giữa doanh nghiệp với chủ nợ, bằng việc rút ngắn kỳ hạn nợ có hiệu lực của doanh nghiệp. Đặc biệt, Myers lưu ý rằng nếu những kỳ hạn nợ trước bất cứ cơ hội nào đem đến thực hiện những lựa chọn đầu tư thực tế thì việc thoái đầu tư như nêu trên sẽ bị phá hỏng. Vì vậy, những doanh nghiệp với nhiều sự lựa chọn để tăng trưởng trong chuỗi các quyết định đầu tư của doanh nghiệp thì nên sử dụng nợ có kỳ hạn ngắn hơn. Nếu một doanh nghiệp có thể tự điều chỉnh giảm chi phí, việc làm thoái đầu tư này cũng sẽ bị phá hỏng (Fama, 1978).
Ví dụ như: xem xét doanh nghiệp với một cơ hội phát triển mà yêu cầu một khoản đầu tư trong một năm. Doanh nghiệp này có động cơ tương tự để liệu xem rằng nên tìm nguồn tài trợ khoản đầu tư này bằng nợ kỳ hạn một năm hay nợ với kỳ hạn mười năm sau đó doanh nghiệp hoàn trả sau một năm vay nợ. Nhưng chiến lược điều chỉnh cơ cấu vốn đòi hỏi doanh nghiệp phải mua lại nợ dài hạn chưa tới hạn trả với mức giá mà không mang lại giá trị cho dự án mới. Nếu những thông tin về dự án làm cho giá nợ dài hạn của doanh nghiệp tăng lên thì lợi nhuận từ dự án lại được chia sẻ giữa những cổ đông và những trái chủ dù những trái phiếu có được mua lại hay không và động cơ đầu tư dưới mức vẫn như cũ.
Việc phát hành nợ ngắn hạn sẽ tránh vấn đề đầu tư dưới mức này.