CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm liên quan Khái niệm căng thang Thuật ngữ "căng thẳng” đã được sử dụng từ thế kỷ 15 trong kỹ thuật với ý nghĩa là sửc ép hoặc sức căng vật lý. Đến thế kỷ 17, thuật ngữ này được sử dụng phổ biến với ý nghĩa khái quát hơn cho cả con người: đó là phản ứng căng thẳng trước một sức ép hay một tác nhân xâm phạm. Tới đầu thế kỷ 20, căng thẳng được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như sinh lý học, tâm lý học và xã hội học [2],[10].H: “căng thăng” là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng”.
Delay thì cho rang: “căng thẳng” là một trạng thái câp tính khiển cơ the buộc phải huy động khả năng phòng vệ đe đoi phó với một tình huống đang đe dọa” [11],[13],[14],[9]. Như vậy, khái niệm chung về căng thắng bao gồm hai khía cạnh: Tình huống căng thẳng chỉ tác nhân xâm phạm hay kích thích gây ra căng thằng: những tác nhân vật lý, hóa học, tâm lý, xã hội; đáp ứng căng thẳng dùng để chỉ trạng thái phản ứng với căng thẳng: phản ứng sinh lý và phản ứng tâm lý. Căng thăng nghê nghiệp: là sự tương tác giữa các điêu kiện lao động với đặc trưng của người lao động khiển cho các chức năng binh thường về tâm lý hay sinh lý hoặc cả hai bị thay đoi. Nói cách khác căng thang nghe nghiệp là những đòi hỏi lao động vượt quá năng lực ứng phó của người lao động [1].
Yeu tố tác hại nghề nghiệp: là tat cả các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp, là nguyên nhân tiềm ấn làm hạn chê khả năng làm việc gây chấn thương hoặc ảnh hường không có lợi cho sức khỏe người lao động thậm trí gây tử vong. Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đôi với người lao động (luật lao động có hiệu lực từ ngày 1/5/2013). Biểu hiện của căng thẳng tâm lý Các nghiên cứu đã kết luận có 3 biểu hiện do căng thắng gây ra là rổi nhiễu tâm lý, các rối loạn sinh lý và các lệch lạc ứng xử. Những rói nhiêu tâm lý do căng thăng: lo hãi, cảm giác hụt hẫng, quá nhạy cảm trong cảm xúc, giảm hiệu quả trong giao tiếp, cảm giác bị xa lánh và ghét bỏ, mất tập trung, mất tính tự chủ,.
[1 ] Những triệu chứng thực tỏn: tăng nhịp tim và huyết áp, bệnh đường tiêu hóa (loét dạ dày, tá tràng), sự mệt mỏi thể xác, bệnh tim mạch, chứng bệnh về hô hấp, 7 chứng nhức đầu, đau mỏi cơ xương.[l] Triệu chứng ứng xử: chần trừ và né tránh công việc, tăng lạm dụng rượu và ma túy, ăn mất ngon và giảm trọng lượng đột ngột, các quan hệ với bạn bè và gia đình xẩu đi, tự sát và mưu toan tự sát,.[l] Hâu quả của căng thang tâm lý Tông hợp từ nhiêu nghiên cứu cho thây, căng thăng tâm lý không nhừng tác động xấu cho cá nhân mà còn cho xã hội. Căng thẳng được xem là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của nhiều căn bệnh như [6,12]: - Bệnh tâm thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn phiền cáu gắt, loạn trí nhớ. - Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cư tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực. - Các bệnh về da: như mịn sưng dở, phồng rộp hay bệnh Zona, da dễ bị mần ngứa, phát ban hay chàm.
- Bệnh tiêu hóa: viêm loét dạ dày - tá tràng, chảy máu tiêu hóa, thủng dạ dày, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn, ăn không tiêu, rổi loạn chức năng đại tràng. - Bệnh phụ khoa: rối loạn kinh nguyệt, rối loạn nội tiết. - Bệnh cơ xương khớp: co cứng cơ, đau lưng, đau khóp, chuột tút, run rẩy, cảm giác kiến bò ở ngón tay. - Toàn thân: suy sụp, mệt mỏi, dễ mắc các bệnh dị ứng hay truyền nhiễm.
Tình trạng căng thẳng tâm lý còn gây các thay đổi về hành vi mà phổ biến là việc sử dụng các chất gây nghiện. Điều này càng làm suy giảm đáng kê tình trạng thể chất, đồng thời làm tinh thần không ổn định dẫn tới các mối quan hệ trở nên căng thẳng, cả trong gia đình và nơi làm việc. Neu không phát hiện sớm thì người bị căng thẳng tâm lý sẽ mất dần tự tin, mất khả năng đưa ra các quyểt định chính xác và sẽ xuất hiện các hành vi bất thường. Từ đó dẫn đến việc bị đồng nghiệp, bạn bè, người thân xa lánh, hoặc gây ra các tổn thất, về tài chính, vật chat, thậm chí xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của bản thân và những người xung quanh [8] Đối với xã hội, căng thẳng tâm lý gây nên gánh nặng về kinh tế thông qua chi phí cho việc chữa trị bệnh, thiệt hại do nghỉ việc, bò việc, mất việc, giảm năng suất lao động.; là một trong nhũng nguyên nhân gây gia tăng tỷ lệ ly hôn và tự sát trong cộng đồng.
Ngoài ra, nhũng người bị căng thẳng tâm lý ở mức độ nặng còn 8 là mối nguy hiểm cho cả cộng đồng bởi với những hành vi bất thường không thể lường trước được [26]. Nguyên nhân căng thắng tâm lý Cho đến nay khoa học vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây ra căng thẳng tâm lý. Các nhà khoa học cho rằng tình trạng này có tính chất tích tụ diễn tiến trong thời gian dài, hoặc xảy ra một cách đột ngột quá sức chịu đựng của cá nhân. Nguyên nhân có thể xuất phát từ môi trường bên ngoài, cũng có thể xuất phát từ chính bên trong con người.
Cùng một sự kiện tác động nhưng mỗi người sẽ có những nhận định riêng về sự kiện đó mang tính đe dọa, có hại hay thách thức và sẽ có các biểu hiện mức độ căng thang khác nhau. Sự khác biệt đó là do ở mỗi người có quá trình nhận thức diễn ra không như nhau. Như vậy nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân mỗi người là nguyên nhân quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ căng thẳng tâm lý của mồi cá nhân [30]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố nguy cơ gây ra căng thẳng tâm lý như các yếu tổ thảm họa thiên nhiên (bão, lũ lụt, hạn hán,.), các yếu tổ xã hội nói chung (chiến tranh, tắc đường, tệ nạn xã hội,.), các yếu tố cá nhân như (tuổi, giới, trình độ học vẩn,.), các yếu tố về công việc như (nội dung công việc, môi trường làm việc, mối quan hệ với đồng nghiệp, sự động viên khuyến khích và phát triên nghề nghiệp.), các yếu tố gia đình như (mất người thân, xung đột trong gia đình, ly thân/ly hôn.
Việc phân chia các yếu tố gây căng thẳng tâm lý chỉ mang tính tương đối. Trên thực tế, một cá nhân bị căng thảng tâm lý có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau cùng tích hợp lại. Do đó, việc xác định chính xác nguyên nhân gây nên tình trạng căng thẳng tâm lý của cá nhân không phải là việc đơn giản [27]. Công cụ đánh giá căng thăng tâm lý Trên the giới có nhiều thang trắc nghiệm đánh giá tình trạng căng thẳng của cá nhân.
Các thang đánh giá đều có điểm chung là dùng bộ câu hỏi trắc nghiệm tự điển. Bộ câu hỏi đánh giả căng thẳng do Hội quản lý căng thẳng quốc tế (International Stress Management Association) của Anh sử dụng gồm 25 câu hỏi trắc nghiệm dạng có/không. Mỗi câu trả lời có được 1 điềm, còn lại là 0 điểm, tính tổng điểm cho 25 câu hỏi để đánh giá mức độ căng thẳng của từng cá nhân. Từ 4 điểm trở xuống là ít có căng thang, từ 5-13 điểm là có liên quan giữa căng thẳng và 9 tình trạng sức khỏe thể chất, tinh thần, từ 14 điểm trở lên là những người dễ bị căng thẳng [32].
Thang đo tự đánh giá căng thẳng nghề nghiệp: bao gồm 57 câu hỏi dạng trắc nghiệm theo thang điểm từ 1 đến 5 cho mỗi câu hỏi và tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng cãng thẳng nghề nghiệp với mối quan hệ cá nhân (27 câu), điêu kiện sức khỏe (22 câu) và hứng thú nghề nghiệp (9 cầu). Trong thang đo tự đánh giá căng thẳng nghề nghiệp được chia ở 3 mức là thấp, trung bình và cao [1], Bảng hỏi nội dung công việc (Job contend questionnaire) trong đó có đánh giá về các căng thẳng do công việc gây ra. Bảng hỏi gôm 27 câu hỏi với sô diêm từ i đển 4 tương ứng với các mức độ tăng dần cho mỗi câu mô tả mô hình căng thắng của Karasek. Bảng hỏi này đánh giá 3 phương diện: áp lực về tâm lý liên quan đen áp lực trong khi làm việc, quyền quyết định hay tự chủ trong công việc và sự ủng hộ thông qua đánh giá moi quan hệ người lao động với đồng nghiệp và cấp trên [33].
Ngoài các thang đánh giá tình trạng căng thẳng thì còn có một số thang đo khác để đánh giá các trạng thái tâm lý khác như: thang đánh giá lo âu của Zung, thang đánh giá trầm cảm Hamilton, thang đánh giá trầm cảm Beck. Thang đánh giá của Lovibond (DASS 42 và DASS 21) là một thang đo đánh giá được tổng hợp cả ba vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến hiện nay là căng thẳng, lo âu và trầm cảm. Thang đo DASS được Viện sức khỏe tâm thần quốc gia khuyển nghị sử dụng. Thang đo DASS 21 đã được đánh giá về tính giá trị, độ tin cậy và khẳng định có thề áp dụng tại Việt Nam, không có sự khác biệt nhiều về vãn hóa [34].F tại khoa Tâm lý học, đại học New South Wales (Australia) đã thiểt kế thang đánh giá căng thẳng, lo âu, trầm cảm ký hiệu là DASS 42.
Và đến năm 1997, nhóm nhà khoa học này cho ra đời thang đo DASS 21, đây là phiên bản rút gọn của DASS 42 nhằm tạo sự tiện lợi hơn cho người dùng [31]. DASS 21 gồm 21 tiểu mục chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 7 tiểu mục. Mỗi đối tượng được phát 1 bảng hỏi tự trả lời. Thông qua 21 câu trả lời theo bảng hỏi và theo khung điểm cho tùng câu hỏi trong thang dánh giá DASS 21 để tính mức điềm cho từng thành phần căng thẳng, lo âu, trầm cảm.
Các câu hỏi đánh giá căng thẳng gồm: 1,6, 8, 11, 12, 14, 18. Các câu 2, 4, 7, 9, 15, 19, 20 dùng đảnh giá tình trạng lo âu và các câu còn lại 3, 5, 10, 13, 16, 17, 21 dùng đê đánh giá tình trạng trầm cảm [18].