Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành vệ sinh môi trường đô thị (VSMTĐT) giữ vai trò trọng yếu trong việc duy trì cảnh quan và bảo vệ môi trường sống tại các đô thị lớn. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực lao động nặng nhọc, độc hại và tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người lao động. Trong cơ cấu nhân lực của ngành, lao động nữ chiếm tỷ trọng áp đảo, đặc biệt công việc thu gom rác thải thủ công có trên 80% nhân sự là nữ giới.
Đặc thù công việc của nữ công nhân thu gom rác đòi hỏi phải làm việc trong điều kiện môi trường khắc nghiệt: làm ca đêm kéo dài, di chuyển liên tục ngoài trời chịu tác động của thời tiết thất thường, đối mặt với nguy cơ tai nạn giao thông, chấn thương do vật sắc nhọn và phơi nhiễm thường xuyên với các tác nhân sinh học (vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng), hóa chất độc hại hay hơi khí rác phân hủy ($H_2S, NH_3, CO_2, NO_2$). Bên cạnh gánh nặng thể xác, người công nhân còn chịu áp lực tâm lý - xã hội nặng nề xuất phát từ sự kỳ thị, thái độ coi thường của một bộ phận cộng đồng, nguy cơ bị trêu ghẹo, quấy rối, sách nhiễu hoặc trộm cướp khi làm việc đơn độc trong đêm.
Công ty TNHH Một thành viên Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO) là doanh nghiệp nhà nước phụ trách thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải trên địa bàn thủ đô với quy mô hơn 5.000 công nhân. Hằng năm, công ty tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động nhưng nội dung thăm khám chủ yếu tập trung vào các bệnh lý thực thể, trong khi khía cạnh sức khỏe tâm thần và tình trạng căng thẳng (stress) nghề nghiệp vẫn chưa được đánh giá đầy đủ. Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về sức khỏe tâm lý của công nhân vệ sinh môi trường còn hạn chế. Đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y tế công cộng của sinh viên Nguyễn Phương Anh (Trường Đại học Y tế Công cộng, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thúy Quỳnh) được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn này.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm:
- Mục tiêu chung: Mô tả thực trạng căng thẳng tâm lý và một số yếu tố liên quan ở nữ công nhân thu gom rác thuộc Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội năm 2017, từ đó đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao sức khỏe cho người lao động.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mô tả thực trạng căng thẳng tâm lý ở nữ công nhân thu gom rác thải của Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội năm 2017.
- Xác định một số yếu tố liên quan đến căng thẳng tâm lý của nữ công nhân thu gom rác thải thuộc Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội năm 2017.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nữ công nhân trực tiếp làm công việc thu gom rác thải thuộc 4 chi nhánh (URENCO 1, URENCO 2, URENCO 3, URENCO 4) của Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Nữ công nhân khỏe mạnh, không mắc các bệnh mãn tính, đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Nữ công nhân từ chối tham gia; nữ công nhân đang trong thời kỳ mang thai hoặc đang nuôi con bú.
- Phạm vi không gian: Địa bàn phụ trách của 4 chi nhánh trung tâm tại Hà Nội, bao gồm quận Ba Đình (URENCO 1), quận Hoàn Kiếm (URENCO 2), quận Hai Bà Trưng (URENCO 3) và quận Đống Đa (URENCO 4).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai từ tháng 01/2017 đến tháng 06/2017 (thời điểm thu thập số liệu thực địa diễn ra vào tháng 02/2017 kết hợp đợt khám sức khỏe định kỳ).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Tác giả tổng hợp các nền tảng lý thuyết dịch tễ học và tâm lý học lao động:
- Căng thẳng (Stress): Phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước các kích thích hoặc tác nhân xâm phạm đe dọa sự cân bằng nội môi.
- Căng thẳng nghề nghiệp (Occupational Stress): Trạng thái xuất hiện khi điều kiện lao động và yêu cầu công việc vượt quá năng lực ứng phó, khả năng kiểm soát hoặc nguồn lực của người lao động.
- Yếu tố tác hại nghề nghiệp & Bệnh nghề nghiệp: Áp dụng định nghĩa theo Luật Lao động (có hiệu lực từ ngày 01/05/2013).
- Mô hình đánh giá căng thẳng: Tham chiếu mô hình nhu cầu - kiểm soát công việc của Karasek (Job Demand-Control Model qua bộ câu hỏi JCQ) và thang đo của Hội Quản lý Căng thẳng Quốc tế (ISMA).
Công cụ đo lường
Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 21 (Depression Anxiety Stress Scale - 21 items), phiên bản rút gọn từ thang DASS 42 do Lovibond & Lovibond phát triển năm 1995. Thang đo DASS 21 đã được Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia khuyến nghị và được kiểm định độ giá trị, độ tin cậy khi áp dụng tại Việt Nam (Trần Đức Thạch, Trần Tuấn, Jane Fisher, 2013).
Để đánh giá riêng trạng thái căng thẳng tâm lý, nghiên cứu trích xuất 7 câu hỏi thành phần: D1, D6, D8, D11, D12, D14, D18. Điểm số căng thẳng được tính bằng tổng điểm của 7 tiểu mục nhân hệ số 2, phân loại thành 4 mức độ:
- Nhẹ: 15 – 18 điểm
- Vừa: 19 – 25 điểm
- Nặng: 26 – 33 điểm
- Rất nặng: $\ge 34$ điểm
(Ngưỡng 0 – 14 điểm là mức bình thường).
Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang có phân tích (Cross-sectional analytical study).
- Công thức tính cỡ mẫu: Sử dụng công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
$$n = de \cdot \frac{Z^2_{1-\alpha/2} \cdot p(1-p)}{d^2}$$
Trong đó:
- Mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0{,}05 \implies Z_{1-\alpha/2} = 1{,}96$.
- Tỷ lệ ước đoán $p = 0{,}5$ (do chưa có nghiên cứu tương đương trước đó).
- Khoảng sai số tuyệt đối $d = 0{,}1$ (10%).
- Hệ số thiết kế $de = 2$.
- Cỡ mẫu lý thuyết tính toán $n = 192$. Dự phòng 10% trường hợp từ chối hoặc phiếu không đạt yêu cầu, cỡ mẫu quy định là 202 công nhân/chi nhánh.
- Tổng cỡ mẫu nghiên cứu trên 4 chi nhánh là: $202 \times 4 = \mathbf{808\text{ nữ công nhân}}$.
Phương pháp chọn mẫu và thu thập số liệu
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Chọn chủ đích 4 chi nhánh trung tâm (URENCO 1, 2, 3, 4) phụ trách thu gom rác với tổng nhân sự 1.785 người (trong đó 1.509 công nhân thu gom rác).
- Giai đoạn 2: Lập danh sách công nhân nữ thu gom rác của 4 chi nhánh (URENCO 1: 260 người; URENCO 2: 232 người; URENCO 3: 348 người; URENCO 4: 361 người). Tiến hành chọn ngẫu nhiên bằng máy tính 202 đối tượng từ danh sách của mỗi chi nhánh.
- Phương pháp thu thập: Phát vấn trực tiếp bằng phiếu tự điền kết hợp quan sát và giải thích của điều tra viên tại khu vực tập trung sau khám sức khỏe định kỳ. Phiếu khảo sát được thử nghiệm trước (pre-test) trên 20 công nhân để hoàn thiện trước khi điều tra chính thức.
- Xử lý và phân tích số liệu: Nhập liệu hai lần bằng phần mềm EpiData 3.1 (nhập lại ngẫu nhiên 10% số phiếu để kiểm soát lỗi nhập liệu). Làm sạch và phân tích bằng phần mềm SPSS 19.0. Sử dụng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %), phân tích đơn biến kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), tính tỷ suất chênh OR thô kèm khoảng tin cậy 95% CI. Các biến có ý nghĩa thống kê ($p < 0{,}05$) hoặc có giá trị y văn được đưa vào mô hình hồi quy đa biến logistic để kiểm soát yếu tố gây nhiễu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về stress, các biểu hiện rối loạn tâm lý, triệu chứng thực tổn (tim mạch, tiêu hóa, hô hấp, da liễu, cơ xương khớp), triệu chứng hành vi và gánh nặng kinh tế - xã hội.
Tác giả tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về sức khỏe tâm thần công nhân môi trường:
- Nghiên cứu quốc tế: Tại Nhật Bản, 61,5% công nhân đốt rác có cảm giác lo lắng, căng thẳng (chịu ảnh hưởng bởi thông tin phơi nhiễm Dioxin); tại Brazil, 44,7% công nhân quét dọn đường phố mắc rối loạn tâm thần nhỏ; nghiên cứu của Venkatesh C. (2014) tại Bangalore (Ấn Độ) chỉ ra 56,7% nữ công nhân quét rác bị stress và rối loạn lo âu; tại Kathmandu (Nepal), 53,4% công nhân vệ sinh bị căng thẳng tâm lý do áp lực công việc và sự kỳ thị của xã hội (73% không rửa tay bằng xà phòng, 65% không thay quần áo ngay sau ca); báo cáo của CUPE (2010) xếp thu gom rác là công việc nguy hiểm hàng đầu với 35% người lao động bị chấn thương mỗi năm; tại Hoa Kỳ (1992–1997), ngành rác chiếm hơn 1% tổng số tử vong do tai nạn lao động; nghiên cứu của Yanhong Gong và cộng sự (2013) tại Vũ Hán (Trung Quốc) nhấn mạnh tình trạng thiếu trang bị bảo hộ cá nhân và thiếu đào tạo an toàn.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Nghiên cứu của Đoàn Tuyết Nhung (1995) tại URENCO Hà Nội ghi nhận tỷ lệ căng thẳng tâm lý ở nữ công nhân: mức nhẹ 51,4%, mức trung bình 24,3%, mức nặng 2,6%; 58,75% không thích công việc; 46,37% có mặc cảm nghề nghiệp; 45,92% công nhân quét rác và 50,27% công nhân xúc rác cảm nhận bị xã hội coi thường; 68% công nhân làm ca đêm (16h–24h hoặc 1h–2h sáng); tỷ lệ mắc viêm phế quản cao gấp 74,3 lần công nhân không tiếp xúc $H_2S, NH_3$ và bụi. Nghiên cứu của Ngô Minh Phương (1998) chỉ rõ dung lượng trí nhớ tức thời sau ca làm việc giảm từ 26,3% – 34,5% ở nhóm quét xúc rác và giảm 38,1% – 69,9% ở nhóm tiếp xúc trực tiếp với phân rác. Nghiên cứu của Võ Hưng tại TP.HCM ghi nhận quãng đường đi bộ đẩy xe rác từ 5 – 7 km/ca.
Cuối chương, tác giả giới thiệu cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội (gồm 7 chi nhánh, 1 văn phòng đại diện, 7 công ty con), trong đó 4 chi nhánh nội thành quản lý 1.509 công nhân thu gom rác thủ công.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu 808 công nhân từ 4 chi nhánh URENCO 1, 2, 3, 4; xây dựng bảng định nghĩa biến số nghiên cứu chuẩn hóa theo 4 nhóm biến độc lập và 1 nhóm biến phụ thuộc:
| Nhóm biến số |
Mã biến |
Tên biến số và định nghĩa |
Phân loại biến |
Phương pháp thu thập |
| A. Cá nhân & Gia đình |
A01 |
Tuổi (năm dương lịch 2017 trừ năm sinh) |
Liên tục |
Phát vấn |
|
A02 |
Trình độ học vấn cao nhất hoàn thành |
Thứ bậc |
Phát vấn |
|
A03 |
Tình trạng hôn nhân (độc thân/kết hôn/ly hôn/góa) |
Định danh |
Phát vấn |
|
A04 |
Số con hiện có |
Rời rạc |
Phát vấn |
|
A05 |
Chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi (Có/Không) |
Nhị phân |
Phát vấn |
|
A06 |
Chăm sóc người già/người ốm/khuyết tật ở nhà |
Nhị phân |
Phát vấn |
| B. Môi trường gia đình, xã hội |
B01 |
Tình trạng trật tự an toàn xã hội (trộm cắp, cướp giật) |
Thứ bậc (Không/Thỉnh thoảng/Thường xuyên) |
Phát vấn |
|
B02 |
Thái độ của người xung quanh đối với công việc |
Thứ bậc (Tôn trọng/Bình thường/Thiếu tôn trọng) |
Phát vấn |
|
B03 |
Bị quấy nhiễu, trêu đùa trong lúc làm việc |
Thứ bậc (Không/Thỉnh thoảng/Thường xuyên) |
Phát vấn |
|
B04 |
Thái độ của người thân đối với công việc |
Thứ bậc (Tôn trọng/Bình thường/Thiếu tôn trọng) |
Phát vấn |
| C. Yếu tố nghề nghiệp |
C01 |
Số năm thâm niên làm việc |
Rời rạc |
Phát vấn |
|
C02 |
Khối lượng công việc quá tải |
Thứ bậc (Không/Thỉnh thoảng/Thường xuyên) |
Phát vấn |
|
C03 |
Nhịp độ công việc cao, gấp gáp |
Thứ bậc |
Phát vấn |
|
C04 |
Tư thế làm việc gò bó (khom, cúi, xoay người) |
Thứ bậc |
Phát vấn |
|
C05 |
Mức độ tập trung quan sát, chói đèn pha xe |
Thứ bậc |
Phát vấn |
|
C06 |
Làm thêm ngoài giờ, quá 8 tiếng/ngày |
Thứ bậc |
Phát vấn |
|
C07 |
Tần suất làm việc ca đêm (số ca/tuần) |
Thứ bậc ($<2$ ca hoặc $\ge 2$ ca/tuần) |
Phát vấn |
|
C08 |
Làm việc vào ngày lễ, tết |
Thứ bậc |
Phát vấn |
|
C09 |
Cảm nhận mức độ tiếng ồn cao |
Thứ bậc (Bình thường/Mệt mỏi/Rất mệt mỏi) |
Phát vấn |
|
C10-C12 |
Làm việc khi thời tiết quá nóng / quá lạnh / mưa bão |
Thứ bậc |
Phát vấn |
|
C13 |
Tiếp xúc hóa chất độc hại (axit, thủy ngân, BVTV) |
Thứ bậc |
Phát vấn |
|
C14 |
Tiếp xúc tác nhân sinh học (nấm, giun sán, vi khuẩn) |
Thứ bậc |
Phát vấn |
|
C15-C17 |
Nguy cơ chấn thương do vật sắc nhọn / TNGT / cành cây đổ |
Thứ bậc |
Phát vấn |
| D. Biến phụ thuộc (Stress) |
D1, D6, D8, D11, D12, D14, D18 |
7 biểu hiện căng thẳng tâm lý theo thang DASS 21 (Điểm $\times 2$) |
Thứ bậc / Nhị phân |
Phát vấn (DASS 21) |
Chương này cũng thiết lập các quy chuẩn về đạo đức nghiên cứu y sinh học (thông qua Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng, cam kết bảo mật danh tính, tư vấn tâm lý miễn phí cho công nhân có điểm stress cao) và các biện pháp giảm thiểu sai số hồi tưởng và sai số nhập liệu.
Chương 3: Kế hoạch và kinh phí
Trình bày lộ trình 14 bước thực hiện đề tài từ tháng 03/2016 đến tháng 11/2017:
- Giai đoạn chuẩn bị (03/2016 – 06/2016): Xây dựng, chỉnh sửa và bảo vệ đề cương nghiên cứu cấp trường.
- Giai đoạn thực địa (02/2017): Tập huấn điều tra viên, giám sát viên, tiến hành thu thập số liệu kết hợp khám sức khỏe định kỳ tại 4 chi nhánh.
- Giai đoạn phân tích và viết báo cáo (03/2017 – 07/2017): Xử lý số liệu, hoàn thiện luận văn, nộp hội đồng.
- Giai đoạn nghiệm thu và phản hồi (08/2017 – 11/2017): Bảo vệ khóa luận tốt nghiệp và phản hồi báo cáo kết quả, tư vấn sức khỏe tâm thần cho Ban Giám đốc cùng nữ công nhân URENCO.
- Dự toán kinh phí thực hiện đề cương: 22 triệu đồng.
Chương 4: Dự kiến kết quả
Chương 4 thiết lập hệ thống bảng trống và mô hình phân tích thống kê dự kiến:
- Mô tả phân bố nhân khẩu học, điều kiện gia đình, điều kiện lao động và nguy cơ tai nạn thương tích.
- Tỷ lệ căng thẳng tâm lý chung và phân bố theo 4 mức độ (nhẹ, vừa, nặng, rất nặng) theo thang DASS 21.
- Bảng phân tích đơn biến tìm mối liên quan giữa stress với:
- Nhóm yếu tố cá nhân, gia đình (tuổi, học vấn, hôn nhân, nuôi con nhỏ $<5$ tuổi, chăm sóc người già/ốm).
- Nhóm tính chất công việc (tập trung quan sát, khối lượng công việc, tư thế lao động, ca đêm, làm việc ngày lễ).
- Nhóm điều kiện môi trường làm việc (tiếng ồn, vi khí hậu nóng/lạnh/mưa bão, phơi nhiễm sinh học, hóa chất, nguy cơ đâm phải vật sắc nhọn, TNGT, cành cây đổ).
- Nhóm môi trường văn hóa - xã hội (trộm cắp, tệ nạn, quấy rối/sách nhiễu ban đêm, thái độ của người thân và cộng đồng).
- Khung mô hình hồi quy đa biến logistic gồm 11 nhóm biến số độc lập dự kiến:
| STT |
Yếu tố trong mô hình hồi quy đa biến (Biến độc lập) |
Phân nhóm so sánh |
| 1 |
Nhóm tuổi |
$< 35$ tuổi / $\ge 35$ tuổi |
| 2 |
Chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi |
Có / Không |
| 3 |
Chăm sóc người già, người ốm bệnh |
Có / Không |
| 4 |
Điều kiện nhà ở |
Đã có nhà ở ổn định / Chưa có nhà ở ổn định |
| 5 |
Tần suất làm việc ca đêm |
$< 2$ buổi/tuần / $\ge 2$ buổi/tuần |
| 6 |
Cảm nhận khi tiếp xúc yếu tố sinh học (vi khuẩn, ký sinh trùng) |
Bình thường / Lo lắng / Rất lo lắng |
| 7 |
Tần suất gặp chấn thương do tai nạn giao thông |
Không bao giờ / Thỉnh thoảng / Thường xuyên |
| 8 |
Tần suất gặp tai nạn do cành cây rơi, đổ |
Không bao giờ / Thỉnh thoảng / Thường xuyên |
| 9 |
Bị quấy rối, sách nhiễu, bắt nạt khi làm đêm |
Không bao giờ / Thỉnh thoảng / Thường xuyên |
| 10 |
Thái độ của người xung quanh đối với nghề nghiệp |
Coi thường / Bình thường / Tôn trọng |
| 11 |
Cảm nhận khi tiếp xúc hóa chất độc hại ($CO_2, H_2S\dots$) |
Bình thường / Lo lắng / Rất lo lắng |
Chương 5: Bàn luận
Định hướng nội dung bàn luận so sánh kết quả thực trạng stress của nữ công nhân URENCO với các công trình nghiên cứu trong nước (Đoàn Tuyết Nhung, Đào Thị Duy Duyên, Lê Thanh Tài, Dương Thành Hiệp) và quốc tế (Nhật Bản, Brazil, Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc); phân tích cơ chế tác động của các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp, yếu tố xã hội và gánh nặng gia đình đến sức khỏe tâm thần của nữ công nhân.
Chương 6: Kết luận và khuyến nghị
Xây dựng cấu trúc kết luận bám sát 2 mục tiêu nghiên cứu và đề xuất khuyến nghị can thiệp thực tế cho người sử dụng lao động (URENCO) và bản thân nữ công nhân thu gom rác nhằm cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao nhận thức bảo hộ và chăm sóc sức khỏe tâm thần tại nơi làm việc.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực chứng trích dẫn từ các nghiên cứu nền tảng
Khóa luận đã tổng hợp hệ thống dữ liệu định lượng quan trọng về điều kiện lao động và sức khỏe của công nhân VSMTĐT:
- Tỷ lệ căng thẳng và sức khỏe tâm thần: Nghiên cứu của Đoàn Tuyết Nhung tại Hà Nội ghi nhận 78,3% nữ công nhân MTĐT bị stress (51,4% nhẹ; 24,3% vừa; 2,6% nặng); tại Ấn Độ, 56,7% nữ công nhân quét rác bị stress và rối loạn lo âu; tại Nepal ghi nhận 53,4% công nhân có biểu hiện stress; tại Nhật Bản có 61,5% công nhân xử lý rác lo âu, căng thẳng.
- Tác động tâm lý - xã hội: 45,92% công nhân quét rác và 50,27% công nhân xúc rác cảm thấy bị người xung quanh coi thường; 46,37% có tâm lý mặc cảm nghề nghiệp; 58,75% không ưa thích công việc đang làm.
- Nguy cơ bệnh tật và phơi nhiễm: Tỷ lệ mắc viêm phế quản ở công nhân thu gom rác cao gấp 74,3 lần nhóm không tiếp xúc khí độc; tỷ lệ nhiễm giun đũa cao gấp 4,5 lần và giun tóc gấp 4,1 lần so với cộng đồng; nồng độ khí $CO_2$ tại vị trí làm việc vượt tiêu chuẩn cho phép từ 4 – 6 lần; thời gian làm việc ban đêm chiếm 68%; quãng đường đi bộ đẩy xe rác trung bình từ 5 – 7 km/ca.
Đóng góp học thuật và ứng dụng thực tiễn
- Về phương pháp luận: Ứng dụng thành công thang đo chuẩn quốc tế DASS 21 vào nghiên cứu dịch tễ học sức khỏe tâm thần nghề nghiệp cho nhóm đối tượng đặc thù là nữ công nhân vệ sinh đô thị tại Việt Nam, kết hợp xây dựng bộ biến số toàn diện bao quát cả 4 chiều cạnh: cá nhân/gia đình, tính chất công việc, môi trường vi khí hậu/độc hại và môi trường văn hóa - xã hội.
- Về thực tiễn: Cung cấp bằng chứng khoa học cho Ban Giám đốc Công ty URENCO và các cơ quan quản lý ngành Y tế Công cộng, làm căn cứ đưa nội dung tầm soát sức khỏe tâm thần vào quy trình khám sức khỏe định kỳ hàng năm cho công nhân vệ sinh môi trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được ghi nhận
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang (Cross-sectional study): Chỉ cho phép xác định mối liên quan tương quan tại một thời điểm, không thể kiểm định và xác lập mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa các yếu tố tác hại nghề nghiệp với tình trạng căng thẳng tâm lý.
- Sai số nhớ lại (Recall bias): Do thu thập thông tin hồi cứu về các sự kiện và trải nghiệm công việc trong vòng 1 tháng trở lại, đối tượng nghiên cứu có thể nhớ không chính xác hoặc phản ánh mang tính chủ quan.
- Phạm vi đối tượng: Nghiên cứu giới hạn ở nhóm nữ công nhân thu gom rác thải thủ công tại 4 chi nhánh nội thành Hà Nội, không đại diện cho công nhân nam, công nhân lái xe vận chuyển rác hoặc công nhân xử lý tại các bãi chôn lấp ngoại thành (như Nam Sơn).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng nghiên cứu thuần tập (Cohort study) theo dõi dọc để đánh giá biến thiên sức khỏe tâm thần theo thời gian làm việc và xác định rõ mối quan hệ nhân quả.
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các đối tượng lao động khác trong ngành môi trường đô thị (nam công nhân, nhân viên lái xe ép rác, công nhân xử lý chất thải công nghiệp và y tế nguy hại).
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận tốt nghiệp này có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên và học viên cao học ngành Y tế công cộng, Sức khỏe nghề nghiệp, Tâm lý học lao động, Xã hội học: Tham khảo khung thiết kế nghiên cứu dịch tễ học cắt ngang, công thức tính cỡ mẫu quần thể có hệ số thiết kế $de=2$, cách thức áp dụng thang đo DASS 21 và quy trình xây dựng bảng biến số dịch tễ học chuẩn mực.
- Cán bộ quản lý an toàn - vệ sinh lao động (HSE) và Ban lãnh đạo các doanh nghiệp môi trường đô thị: Cung cấp bức tranh toàn diện về các mối nguy tâm lý - xã hội đặc thù của công nhân vệ sinh, phục vụ việc xây dựng chính sách hỗ trợ tâm lý, cải tiến trang thiết bị bảo hộ và phân bổ ca kíp lao động hợp lý.
Câu hỏi thường gặp
1. Thang đo DASS 21 được sử dụng để đánh giá căng thẳng tâm lý trong nghiên cứu này như thế nào?
Nghiên cứu sử dụng 7 câu hỏi chuyên biệt đánh giá mức độ căng thẳng thuộc thang đo DASS 21 (gồm các câu: D1, D6, D8, D11, D12, D14, D18). Điểm số thu được từ 7 câu này được cộng lại và nhân hệ số 2 để quy đổi về thang điểm chuẩn. Mức độ căng thẳng được chia thành 4 mức: Nhẹ (15–18 điểm), Vừa (19–25 điểm), Nặng (26–33 điểm) và Rất nặng ($\ge 34$ điểm).
2. Quy mô mẫu nghiên cứu được xác định ra sao và chọn mẫu theo phương pháp nào?
Cỡ mẫu được tính bằng công thức ước tính tỷ lệ với $p = 0{,}5$, sai số $d = 0{,}1$, hệ số thiết kế $de = 2$, cộng thêm 10% dự phòng, cho ra 202 công nhân/chi nhánh. Tổng cỡ mẫu là 808 nữ công nhân. Phương pháp chọn mẫu là ngẫu nhiên 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 chọn 4 chi nhánh URENCO 1, 2, 3, 4; Giai đoạn 2 chọn ngẫu nhiên đơn trên máy tính 202 công nhân nữ từ danh sách nhân sự của mỗi chi nhánh.
3. Những nhóm yếu tố nguy cơ nào được đưa vào phân tích mối liên quan với tình trạng stress?
Nghiên cứu khảo sát 4 nhóm yếu tố:
- Cá nhân và gia đình: Tuổi, học vấn, tình trạng hôn nhân, số con, nuôi con nhỏ $<5$ tuổi, chăm sóc người già/ốm, tình trạng nhà ở.
- Tính chất công việc: Thâm niên, khối lượng quá tải, nhịp độ gấp gáp, tư thế gò bó, tập trung quan sát/chói đèn pha, làm thêm giờ, tần suất làm ca đêm, làm ngày lễ tết.
- Môi trường làm việc: Tiếng ồn, thời tiết khắc nghiệt (nắng nóng, rét buốt, mưa bão), phơi nhiễm vi sinh vật, hóa chất độc hại, nguy cơ đâm phải vật sắc nhọn, TNGT, cành cây đổ.
- Môi trường xã hội: Trật tự trị an (trộm cướp), tệ nạn xã hội, quấy rối/sách nhiễu ban đêm, thái độ của người thân và xã hội đối với nghề nghiệp.
4. Các nghiên cứu trước đây tại URENCO và quốc tế ghi nhận tỷ lệ căng thẳng ở công nhân vệ sinh là bao nhiêu?
Nghiên cứu năm 1995 của Đoàn Tuyết Nhung tại URENCO Hà Nội ghi nhận 78,3% nữ công nhân bị stress (51,4% nhẹ; 24,3% vừa; 2,6% nặng). Trên thế giới, tỷ lệ stress/lo âu được ghi nhận ở công nhân đốt rác Nhật Bản là 61,5%, nữ công nhân thu gom rác tại Ấn Độ là 56,7%, công nhân vệ sinh tại Nepal là 53,4% và tại Brazil là 44,7%.
5. Nghiên cứu thực hiện các biện pháp nào để đảm bảo tính chính xác và đạo đức nghiên cứu?
Nghiên cứu thử nghiệm trước bộ câu hỏi trên 20 công nhân, tập huấn kỹ lưỡng cho điều tra viên, nhập liệu trùng lặp 10% trên EpiData 3.1 để kiểm tra sai số. Về đạo đức, đề cương được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng xét duyệt, người tham gia ký phiếu đồng ý tự nguyện, thông tin cá nhân được mã hóa bảo mật và các công nhân phát hiện có stress nặng sẽ được tư vấn, giới thiệu đến cơ sở y tế chuyên khoa.
Kết luận
Đề tài khóa luận của tác giả Nguyễn Phương Anh là một công trình nghiên cứu dịch tễ học chuyên sâu về sức khỏe tâm thần nghề nghiệp ở nhóm nữ công nhân thu gom rác thải tại thủ đô Hà Nội. Thông qua thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 808 đối tượng và ứng dụng thang đo chuẩn DASS 21, nghiên cứu đã xây dựng khung đánh giá toàn diện về thực trạng stress và các yếu tố tác động đa chiều từ môi trường lao động, gia đình đến xã hội. Kết quả và phương pháp luận của đề tài cung cấp cơ sở thực chứng giá trị cho công tác chăm sóc sức khỏe y tế công cộng và quản lý an toàn lao động trong ngành dịch vụ môi trường đô thị.