Chương 1: Một số vẫn dé lý luân pháp luật về căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chẳng Chương 2: Nội dung pháp luật hiện hành về căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chẳng Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chẳng tai Việt Nam hiên nay và một số kiến nghĩ. CHUONG1 MOT SỐ VAN DE LY LUẬN PHÁP LUAT VE CĂN CULY HON THEO YEU CAU CUA MỘT BEN VO HOẶC CHONG 111. Khái niệm về ly hôn và căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ. Khái niệm ly hôn.
Khai niệm Ly hôn có một ý nghĩa rét quan trong trong khoa học pháp lý nói chung là khoa học Luật HN&GĐ nói riêng, phản ánh được quan điểm. của Nhà nước về ly hôn, đồng thời tạo tiễn để để lý luận cho việc xắc định bản chất của ly hôn, căn cứ để giải quyết ly hôn và các vẫn để phat sinh khác. ‘Mac và Angghen đã chỉ ra những mâu thuẫn nội tại trong gia đính va những sự đối lập nhất định trong gia đính do, bối lế "sự đổi lập giai cấp đâu. tiên xuất hiện trong lịch sử là trùng với sự phát triển của sự đối kháng giữa người vo va người chồng trong hôn nhân cả thể Theo Từ điển Tiếng Việt, “Ly hôn là vợ chẳng bé nhau”.
ly, Từ điển Luật học lại định nghĩa “Ly hôn la cham đứt quan hệ vợ chồng do Tòa án công nhân hoặc quyết định theo yêu câu của vợ hoặc chồng hoặc c& hai vợ chẳng”. Theo đó, Ly hôn là sự kiên pháp lý đại diện cho việc chấm đứt quan hệ vợ chồng. ‘Mac và Ăngghen nhân mạnh trong cuốn “Nguồn góc gia đình, chế độ tư hữu và Nhà nước", ring Bản chất của ly hôn chi là việc xác nhân một sự kiện, cuộc sống hôn nhân này 1a cuộc sống hôn nhân đã chết, sự tổn tại của nó chỉ là bê ngoài và lửa d 'Việc giải quyết ly hôn khi hạnh phúc gia đình thực sự không còn nữa được € Mác và PhAngghen tán thánh, họ cho rằng đó là điểu cần thiết cho cả người dan ông, người dan bả va cho cả xã hội, là biểu hiện cia đạo đức va lả một quy tắc trong quan hệ vợ chẳng mới. Trong sã hội tương lai, đảm bao cho con người quyền từ do kết hôn va tự do ly hôn trên cơ sở bình đẳng giữa người din ông và người dan bả, đây la bước tiền rổ rệt trong thời hiện đại 1.
Khái niệm căn cứ ly hôn Theo Tử điển Việt Nam, "Căn cứ" là “Cai làm chỗ dua, làm cơ sở để lập luôn”. Từ đó, căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên vo, chẳng được hiểu Ja cơ sở để cơ quan co thẩm quyền giải quyết ly hôn khi có yêu cầu từ vợ hoặc chẳng. Căn cứ ly hôn được hiểu là cơ sở từ đó để cơ quan Nha nước có thấm quyển xem xét và quyết đính giải quyết ly hôn. Ly hôn chính la cơ sở từ đó Tòa án áp dụng để giải quyết tranh chấp ly hôn.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hôn nhân (trong đó có ly hôn) là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc. Trong từng giai đoạn phat triển của lich sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thông trị đều. thông qua Nhà nước, bing pháp luết (hay tục lê) quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chỉ của Nha nước. Tức la Nha nước bằng pháp luật quy định những điều kiện nao ác lập quan hệ vợ chẳng, đồng thời xác lập trong những điều kiện căn cử nhất đính mới được phép xóa bô (chấm đút) quan hệ hôn nhân Đó chính là căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật của Nhà nước.
Như vay, căn cứ ly hôn là những tinh tiết (điều kiên) được quy định trong pháp luật va chỉ khi có những tinh tiết (điều kiên) đó, Tòa án mới được sử cho ly hôn. Ly hôn 1a hiện tượng xã hội mang tinh giai cấp. Do có quan điểm khác nhau về quy định vả giải quyết ly hôn, cho nên căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật của Nha nước zã hội chủ nghĩa cỏ nôi dung khác vẻ bản chất so với căn cứ ly hôn do Nhà nước phong kién, từ bản đặt ra. Pháp luật của nhà nước phong kiến, tư sản quy đính có thể cém ly hôn (không quy định căn cử ly hôn mã chỉ công nhận quyển vo chẳng được sống tách biệt nhau (biệt cư) ‘bang chế định ly thân bang hạn chế quyển ly hôn theo thời gian xác lập quan.
'hệ hôn nhân, theo 46 tuổi của vợ chồng, và thường quy định xét xử ly hôn dua trên cơ sở lỗi của vợ, chồng hay của cả hai vợ chẳng (các điều kiện có tính chất hình thức, phản ánh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chẳng, chit không phải ban chất ly hôn đã tan vỡ). Ngược lại, pháp luật của Nha nước xã hôi chủ nghia công nhận quyển tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không thé cam hoặc đất ra những điều kiện nhằm han chế quyển tư do ly hôn Ly hôn dựa trên su tự nguyện của vợ chồng, nó la kết quả của hành vi có ý chi của vợ chẳng khi thực hiện quyển ly hén của minh Việc giải quyết ly hôn là tat yêu đôi với quan hé hôn nhân đã thực sự tan vỡ, điều đó là hoan toàn có lợi cho vợ, chẳng, con cai và các thành viên trong gia đình 113. Khái niệm căn cứ ly hôn theo yêu cầu cũa một bên vợ, chẳng. Đơn phương ly hồn hay còn goi la ly hôn theo yêu câu của một bên là việc một trong hai bên vợ hoặc chẳng nộp đơn ly hôn yêu cẩu téa án chấm.
đứt quan hệ hôn nhân của minh đối với bên còn lại. Một mỗi quan hệ hôn nhân được chấm dứt dựa trên hai trường hợp đồng thuận và đơn phương Đông thuân la khi cả hai cảm thấy đời sống hôn nhân quá bể tắc và đều hiểu rang việc chim đút là diéu tất yêu, ho sẽ đồng thuân yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, được thể hiện qua đơn yêu câu giải quyết việc ly hôn đã có chữ ký của cả hai vợ chẳng Bên cạnh đó, khí một bên vợ hoặc chẳng cm thay hôn nhân không thể tiếp tục, tuy nhiên đối phương không ding ý việc chấm đứt quan hệ vợ chẳng, vả lý do chit quan hoặc khách quan Khi căm thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dai thêm được nữa, một bến vợ hoặc chẳng hoàn toàn có thé yêu cầu. ly hôn ma không cân sự đồng thuận của bên còn lại. Tử đó, toa án sẽ dựa vao cơ sỡ dé giải quyết việc ly hôn theo yêu câu cia một bên.
Co sở để quy định căn cứ ly hôn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác — ‘Lénin. Quan điểm của chủ nghia Mác — Lénin thể hiện quyên tự do kết hôn. cia nam nữ nhằm ác lập quan hệ vợ chẳng vả quyển tự do ly hôn cia vợ chồng nhằm cham đứt quan hệ vợ chẳng va quyển tự do ly hôn theo đúng ban chất của một sự kiện ~ đỏ lả hôn nhân "đã chết", sự tồn tai của nó chỉ là bể ngoài va lửa đối. Đương nhiên, không phải ý chi cia nha lập pháp, cũng phải sự tùy tiên của các cả nhân, ma chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc sống hôn nhân này "đã chết" hay chưa.
Nha lâp pháp chỉ cd thể xác định những điều kiên ban chất của mối quan hé, theo đó những trường hợp ảo về mất pháp lý hôn nhân được coi là sự tan vỡ ngiữa là vẻ thực chất, hôn. nhân tự nó đã pha vỡ và việc tòa án cho phép phi bỏ hôn nhân chi la việc ghỉ biển bản công nhận sự tan vỡ bên trong của nó và chỉ khi nảo hôn nhân xét về ân chất không còn lả hôn nhân nữa, toa án mới được sử cho ly hôn. Căn cứ ly hôn theo yêu cầu của mét bén vốn đã được quy định đạo luật phong kién hoản chỉnh nhất của Việt Nam là Bộ Luật Hồng Đức, theo đó nhắn mạnh vào yêu tổ lỗi của vợ hoặc chẳng ( yêu là người vo) để làm căn cứ giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên Các Mác đã viết: “Về mặt hôn. nhân, nha lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện trong đó hôn nhân được phép tan vỡ".
Quyển yêu cầu ly hôn 1a một trong những quyển dân sự cơ ban của vo, chẳng được quy định trong BLDS 2015 la luật HN&GĐ 2014 Tuy nhiên, pháp luật cũng đã han chế quyên yêu cầu ly hồn của người chẳng, được quy định tai khoản 3 điều 51 luật HN&GĐ 1. Ý nghĩa của việc quy định căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên. ‘vg, chẳng Thứ nhất, đối với các bên trong quan hệ hôn nhân. Ly hôn là việc vợ hoặc chéng hoặc cả hai mong muốn chấm ditt quan hệ hôn nhân đã được xác lập và được Nhà nước công nhận.
Việc quy định căn cử ly hôn có vai tro quan trong trong quan hệ hôn nhân, tạo nên bộ quy chuẩn và điều chỉnh đạo đức hành vi đối với vợ và chẳng, giữ cho hôn nhân tổn tại trên cơ sở vợ chẳng tôn trọng nhau và thương tôn pháp luật, Các bên trong quan hệ hôn nhân có thể đối chiều với căn cứ ly hôn để biết được hành vi của. vợ hoặc chẳng có vi phạm đạo đức hay đủ căn cứ để cham dứt quan hệ hôn. nhân hay chưa 10 Trong béi cảnh xã hội hiện nay, việc sung đột trong quan hệ hôn nhân. Ja không tránh khỏi.
Những tranh chấp mâu thuẫn lớn nhỏ đều có thé xảy ra và việc các bên nhìn nhân van để cũng khác nhau. Một khi quan hệ vợ chẳng trở nên căng thẳng, không thể tìm được tiếng néi chung, Nha nước tôn trọng. quyển công dân, quyền mưu cẩu hanh phúc của từng cả nhân, từ đó tôn trong và thừa nhận quyền ly hôn của con người Các cấp vợ chẳng kết hôn ở đô tudi còn quá trẻ, tâm sinh lý chưa thưc sự ổn định, chưa có sự chuẩn bị về kiến thức và Ki năng sông trước khi bước. vào đời sống hôn nhân.
Không ít người chưa có việc làm, sau khi kết hôn phải tự lo cho cuộc sông riêng, trong khi điều kiên kinh tế chưa dam bảo nên dễ phát sinh mâu thuẫn. Không chỉ vậy, một số khác trước khi kết hôn chưa có đủ thời gian tìm hiểu nhau, sau khi chung sống ho bat đồng quan điểm, tính. tình không hợp.