CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Có thể khẳng định các công trình nghiên cứu về hoạt động kiểm tra thuế khá nhiều, đa dạng cả về nội dung, đối tượng và phương pháp nghiên cứu cũng như góc độ nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu của luận án có thể tổng hợp thành 2 nhóm nghiên cứu: (i) Các công trình nghiên cứu về quản lý thuế trong đó có đề cập đến nội dung kiểm tra thuế và (ii) nhóm nghiên cứu các vấn đề về thanh tra thuế và kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý thuế trong đó có đề cập đến nội dung thanh tra thuế, kiểm tra thuế 1.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài - John Brondolo, Carlos Silvani, Eric Le Borgne and Frank Bosch (2008) trong nghiên cứu “Tax Administration Reform and Fiscal Adjustment: The case of Indonesi” [113.] công bố bởi IMF Working Papers đã nghiên cứu cải cách thuế ở Indonesia giai đoạn 2001 - 2008. Trong đó, nghiên cứu đánh giá tầm quan trọng trong quy trình quản lý thuế và cải cách quy trình quản lý thuế nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí hành chính cho NNT. Cải cách quy trình quản lý thuế chuyển hướng mạnh từ quy trình quản lý theo các sắc thuế sang quy trình quản lý theo chức năng quản lý và đối tượng quản lý. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề xuất quy trình quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
- LI LIU (2011), trong ấn phẩm “The economic effects of coroporate income taxation” [118.] đã đưa ra mô hình nghiên cứu thực nghiệm về tác động kinh tế của thuế TNDN, mô hình đặt trong bối cảnh thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Mô hình đã đưa ra kết quả tỷ lệ thuế suất tăng 10% thì thu nhập bình quân của người lao động giảm tương ứng 45% đến 56%, nhấn mạnh người lao động gánh chịu ít nhất 87% thuế TNDN. Đề tài nghiên cứu ở góc độ kĩ thuật tác động kinh tế của thuế TNDN đối với thu nhập của người lao động. Nugent (2013), Trợ lý giáo sư thỉnh giảng của Đại học Robert Morris, Mỹ trong nghiên cứu “Legislating Morality: The Effects of Tax Law Complexity on Taxpayers’ Attitudes” [97.] đã đề cập đến những ảnh hưởng của sự phức tạp trong quản lý thuế đối với hành vi của người đóng thuế.
Trọng tâm đặc biệt là ảnh hưởng của sự phức tạp của luật thuế đối với nhận thức của NNT về đạo đức của các khoản khấu trừ có thể không được phép. Sự phức tạp của luật thuế có thể làm tăng nhận thức rằng việc khấu trừ đáng ngờ sẽ là chấp nhận được xã hội chấp nhận thuế hơn là trốn thuế về mặt xã hội không thể chấp nhận và việc khấu trừ đáng ngờ là chấp nhận được về đạo đức. Nghiên cứu phân tích sự khác biệt và kết quả hồi quy phù hợp với các giả thuyết. - European commission (2015), Tax Reforms in EU Member States: 2015 Report [105.], báo cáo đề cập đến cải cách cơ cấu tổ chức của CQT được triển khai khi áp dụng cơ chế mới “tự khai, tự nộp thuế” và phát sinh những chức năng quản lý thuế mới.
Cụ thể, CQT Bulgaria đã thiết lập một giám đốc chuyên môn để phát hiện gian lận thuế trong cơ quan thu thuế quốc gia. Đan Mạch đã xem xét tổng thể cấu trúc hành chính quản lý thuế để củng cố bộ phận kiểm soát và thanh tra, kiểm tra thuế, CQT cộng hòa séc thiết lập một “điểm thu thuế duy nhất”, nơi kết hợp việc thu thuế nội địa, thuế, phí hải quan và đóng góp an sinh xã hội. Croatia đã tổ chức lại cơ quan quản lý thuế, với mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý thuế trong tình hình mới. Các công trình nghiên cứu trong nước Khi nghiên cứu về quản lý thuế, các công trình có đề cập đến nội dung thanh tra, kiểm tra thuế và có đề cập ở những mức độ nhất định đến hiện đại hóa quản lý thuế nói chung và ứng dụng quản lý rủi ro vào quản lý thuế.
- Lê Duy Thành (2007), Đổi mới quản lý thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam [48. Luận án đã đề cập và phân tích những nội dung lý luận về quản lý thuế và tác động của hội nhập kinh tế đến quản lý thuế. Để đảm bảo được hiệu quả quản lý thuế, việc thực hiện công tác quản lý thu thuế chính xác, đầy đủ, kịp thời, chống thất thu thuế, hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng không tuân thủ, gian lận, trốn thuế của NNT được coi là giải pháp cơ bản. 11 - Nguyễn Thị Lan (2009), Các giải pháp hạn chế việc trốn thuế và tránh thuế của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam [25.] đã hệ thống hóa lý luận về các hành vi trốn thuế, tránh thuế của các công ty đa quốc gia.
Tác giả cũng phân tích, đánh giá thực trạng và nhấn mạnh rằng các công ty đa quốc gia là các đối tượng nộp thuế có nguy cơ trốn thuế và tránh thuế rất cao; hiện tượng lợi dụng việc định giá chuyển giao để trốn, tránh thuế là khá phổ biến. Nghiên cứu đã đề xuất biện pháp đổi mới công tác thanh tra thuế đối với các công ty đa quốc gia theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, tập trung áp dụng cơ chế APA trong định giá chuyển giao giữa công ty ở Việt Nam với công ty liên kết. - Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009), Hoàn thiện quản lý thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (Nghiên cứu tình huống của Hà Nội) [53. Luận án chỉ ra Các tiến bộ cơ bản như quan điểm đã thay đổi từ doanh nghiệp là đối tượng cai trị của CQT trở thành trung tâm của hệ thống thuế, đã xuất hiện quan điểm đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp.
Những hạn chế cũng được chỉ ra như sự kém thỏa mãn của doanh nghiệp đối với hoạt động quản lý thuế của CQT như thời gian qua và thái độ phục vụ của cán bộ hỗ trợ; sự phức tạp về thủ tục kê khai, hoàn thuế; hạn chế về tính chính xác của nội dung thanh tra và kết luận thanh tra. - Hoàng Thị Thúy Ngọc (2010), Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế [33.]; Luận án nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân. Luận án chỉ rõ vấn đề nổi cộm hiện nay là vấn đề hóa đơn, từ đó làm nảy sinh các vấn đề khác như trốn thuế, gian lận thuế, vấn đề nợ thuế và thủ tục thuế. Luận án đề xuất các mục tiêu hướng tới: Mục tiêu kinh tế, pháp lý, đạo lý của công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân.
- Nguyễn Thị Thùy Dương (2011), Quản lý thuế ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế [13. Luận án đã chỉ rõ, trong điều kiện hội nhập, các tiêu chí để đánh giá một hệ thống thuế tốt phải xét đến mối quan hệ giữa 12 CQT và NNT, quan hệ với các nhân viên quản lý thuế, những tiêu chí về lập pháp, những đặc điểm về quản lý, đảm bảo tính linh hoạt trong điều hành. Bước tiến đáng kể của luận án là sử dụng công cụ phân tích định lượng bằng mô hình GTAP và qua điều tra khảo sát đối với thực trạng quản lý thuế ở Việt nam trong điều kiện hội quản lý thuế. - Lưu Ngọc Thơ (2013), Quản lý thuế đối với doanh nghiệp lớn ở Việt Nam hiện nay [51.
Luận án cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với các DN lớn ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2012. Trên cơ sở đó, Luận án đã đề xuất 2 nhóm giải pháp gồm nhóm giải pháp về hoàn thiện tổ chức bộ máy và sửa đổi Luật Quản lý thuế đối với DN lớn, nhóm giải pháp về tổ chức quản lý thu thuế đối với các DN lớn. - Đề tài nghiên cứu khoa học “Đổi mới hoàn thiện hệ thống quản lý thu thuế ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Mai Phương (2003) [37.] là một đề tài cấp viện của Viện Khoa học Tài chính. Đóng góp chủ yếu của đề tài là đã khái quát thực trạng công tác quản lý bộ máy thu thuế và công tác hành thu, đề xuất các giải pháp khá phù hợp với Việt Nam.
Tuy nhiên đề tài chưa đề cập đến một số vấn đề lý thuyết cơ bản như khái niệm quản lý thuế, nội dung và phương thức quản lý thuế, đặc biệt tác giả chưa đi sâu váo sắc thuế TNDN một cách cụ thể. Các giải pháp chưa có tính đột phá để cải thiện về cơ bản công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay nói chung và công tác quản lý thuế TNDN nói riêng. - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện của Nguyễn Đình Chiến và các thành viên (2014), Nâng cao hiệu quả quản lý thuế ở Việt Nam [7. Theo đó, nghiên cứu cho rằng hiệu quả quản lý thuế là kết quả so sánh giữa sự thay đổi thực tế đạt được của quan hệ quản lý thuế do sự tác động của pháp luật quản lý thuế mang lại phù hợp với mục đích, yêu cầu định hướng đạt được với mức chi phí để đạt được sự thay đổi thực tế đó.
Những tồn tại của thực trạng quản lý thuế đã được nêu ra như có sự hạn chế tiềm tàng của quản lý thuế ảnh hưởng đến thu NSNN thể hiện qua xem xét mối tương quân giữa thu NSNN từ thuế nội địa với sự ổn định của tổng thu nội địa trên GDP đã được chứng minh trong thời kỳ 13 nghiên cứu. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế được đề xuất theo hướng hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý thuế các cấp của CQT. Các công trình nghiên cứu về kiểm tra thuế, thanh tra thuế 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài - Quĩ Tiền tệ quốc tế (IMF) (2005), Thanh tra đối tượng nộp thuế lớn tại Châu Á - Thái Bình Dương [40.
Năm 2005 Quĩ Tiền tệ thế giới (IMF) tổ chức Hội thảo "Thanh tra đối tượng nộp thuế lớn tại Châu Á - Thái Bình Dương", 17 nước đang phát triển trong khu vực tham gia, trong đó có Việt Nam. Nội dung Hội thảo đã thảo luận về chuẩn mực thanh tra, qui trình thực hiện thanh tra, nhận diện và quản lý rủi ro về thuế.