phần mở đầu, kết luận, khoá luận gồm có 3 phần chính: Chƣơng 1. Lý luận cơ bản về bảng cân đối kế toán và tổ chức lập, phân tích bảng cân đối kế toán trong doanh nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng tổ chức lập và phân tích bảng cân đối kế toán tại công ty cổ phần vật tƣ tổng hợp Hải Phòng Chƣơng 3. Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức lập và phân tích bảng cân đối kế toán tại công ty cổ phần vật tƣ tổng hợp Hải Phòng Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thảo Lớp QT902K Trang - 2 - KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Trƣờng ĐHDL Hải Phòng CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN VÀ TỔ CHỨC LẬP, PHÂN TÍCH BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 1. Bảng cân đối kế toán 1. Khái niệm Bảng cân đối kế toán là một bộ phận trong hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định (thƣờng là tại ngày 31 tháng 12 năm tài chính) dƣới hình thái giá trị. Số liệu của Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu gồm hai phần luôn bằng nhau: tài sản và nguồn vốn (nguồn hình thành tài sản).
Ý nghĩa của Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là nguồn thông tin tài chính hết sức quan trọng trong công tác quản lý của bản thân doanh nghiệp cũng nhƣ cho nhiều đối tƣợng khác ở bên ngoài nhƣ các cơ quan chức năng của Nhà nƣớc, các nhà đầu tƣ, ngƣời mua, ngƣời bán. Do đó, Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa hết sức quan trọng: - Cung cấp thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp nhƣ: Tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hƣởng từ các nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát, cơ cấu tài chính, khả năng thanh toán và khả năng tƣơng thích với môi trƣờng kinh doanh. - Thông tin về tình hình doanh nghiệp: Những thông tin về tình hình kinh doanh, đặc biệt là thông tin về tính sinh lợi, thông tin về tình hình biến động trong sản xuất kinh doanh sẽ giúp cho đối tƣợng sử dụng đánh giá những thay đổi tiềm tàng của các nguồn lực tài chính mà doanh nghiệp có thể kiểm soát trong tƣơng lai, đánh giá hiệu quả các nguồn lực bổ sung mà doanh nghiệp có thể sử dụng. - Thông tin về sự biến động tình hình tài chính của doanh nghiệp: Các chỉ tiêu về tình hình tài sản, nguồn vốn tại một thời điểm hoặc của một thời kỳ rất hữu ích trong việc đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.
Từ đó chúng ta có thể thấy thông tin trong Bảng cân đối kế toán có tác dụng quan trọng trong công tác quản lý, cung cấp thông tin cho các đối tƣợng để ra các quyết định kinh tế phù hợp và kịp thời. Đối với mỗi đối tƣợng, có những tác dụng khác nhau. Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thảo Lớp QT902K Trang - 3 - KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Số liệu của Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản và nguồn hình thành tài sản đó. Căn cứ vào số liệu trên Bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp.
từ đó cho phép đánh giá đƣợc triển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp trong tƣơng lai. - Căn cứ vào số liệu trên Bảng cân đối kế toán, lãnh đạo doanh nghiệp đánh giá chung về mặt tài chính nhƣ: tình hình huy động vốn, quản lý và sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn tín dụng, các khoản nợ phải trả và tình hình thanh toán. - Qua số liệu trên Bảng cân đối kế toán cho phép nhận định, đánh giá một số mặt về tình hình sử dụng tài sản lƣu động, tài sản cố định. - Giúp cơ quan quản lý Nhà nƣớc nắm đƣợc năng lực tài chính của doanh nghiệp, tổng số và cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, khả năng và tình trạng tài chính nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp.
- Giúp cho khách hàng nắm đƣợc quy mô sản xuất, tính chất hoạt động, khả năng phát triển, tình trạng tài chính, khả năng thanh toán để có quyết định làm ăn với doanh nghiệp. - Là căn cứ pháp lý để xử lý các vấn đề liên quan đến việc chia tách, sáp nhập, nhƣợng bán, giải thể, cho thuê doanh nghiệp. Kết cấu của Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán đƣợc chia thành 2 phần: Phần chính và Phần phụ. Phần chính của Bảng: Phần này nằm trong cân đối của tài sản đƣợc chia làm 2 bên (kết cấu truyền thống) hoặc 2 phần (kết cấu hiện đại) đó là TÀI SẢN và NGUỒN VỐN, mỗi phần lại đƣợc chia làm 5 cột: Cột 1: Phản ánh các chỉ tiêu.
Cột 2: Phản ánh mã số. Cột 3: Thuyết minh. Cột 4: Phản ánh số đầu năm. Cột 5: Phản ánh số cuối năm (cuối quý).
Mỗi phần Tài sản và Nguồn vốn lại căn cứ vào nội dung kinh tế, công dụng kinh tế của tài sản và nguồn vốn chia thành 2 loại (A,B), trong mỗi loại lại chia thành nhiều mục, chi tiết theo yêu cầu quản lý. Phần TÀI SẢN: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thảo Lớp QT902K Trang - 4 - KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Trƣờng ĐHDL Hải Phòng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm 2 phần: Tài sản ngắn hạn (mã 100) và Tài sản dài hạn (mã 200). Trong đó: - Loại A: Tài sản ngắn hạn bao gồm các chỉ tiêu: Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền; Các khoản đầu tƣ tài chính ngắn hạn; Các khoản phải thu ngắn hạn; Hàng tồn kho; Tài sản ngắn hạn khác. - Loại B: Tài sản dài hạn bao gồm: Các khoản phải thu dài hạn; Tài sản cố định; Bất động sản đầu tƣ; Các khoản đầu tƣ tài chính dài hạn; Tài sản dài hạn khác.
Sắp xếp nhƣ vậy ta thấy các tài sản có tính lƣu động giảm dần nhằm đảm bảo tính thanh khoản tài sản của doanh nghiệp trong cơ chế thị trƣờng. Phần NGUỒN VỐN: Phản ánh toàn bộ nguồn hình thành các loại tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo, cũng bao gồm 2 phần: Nợ phải trả (mã 300) và Vốn chủ sở hữu (mã 400). Trong đó: - Loại A: Nợ phải trả bao gồm: Nợ ngắn hạn; Nợ dài hạn. - Loại B: Vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn chủ sở hữu; Nguồn kinh phí và quỹ khác.
Sắp xếp nhƣ vậy là căn cứ vào phạm vi sử dụng của nguồn vốn. Loại A là các khoản nợ phải trả, doanh nghiệp đƣợc sử dụng dƣới sự giám sát của ngân hàng và các tổ chức kinh tế. do đó doanh nghiệp có trách nhiệm phải sử dụng đúng mục đích, hợp lý và hiệu quả có trách nhiệm trả nợ vay cả gốc và lãi đúng kỳ hạn quy định. Còn loại B là nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp có toàn quyền tự quyết, tự chủ.
Hai phần TÀI SẢN và NGUỒN VỐN của Bảng cân đối kế toán luôn bằng nhau. Phần phụ của Bảng: Phần này không nằm trong cân đối tài sản, phản ánh những tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhƣng do doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng và phản ánh một số chỉ tiêu bổ sung mà các chỉ tiêu trong bảng chƣa thể hiện hết nhƣ: - Tài sản thuê ngoài. - Vật tƣ, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công. - Hàng hoá nhận bán hộ, nhận ký gửi.
- Nợ khó đòi đã xử lý. - Ngoại tệ các loại. - Dự toán chi hoạt động. - Nguồn vốn khấu hao cơ bản.
Sinh viên: Nguyễn Phƣơng Thảo Lớp QT902K Trang - 5 - KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Trƣờng ĐHDL Hải Phòng 1. TỔ CHỨC LẬP BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 1. Yêu cầu, nguyên tắc lập và trình bày Bảng cân đối kế toán Theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính”, khi lập và trình bày Bảng cân đối kế toán phải tuân thủ các nguyên tắc chung về lập và trình bày báo cáo tài chính nhƣng không đƣợc áp dụng “Nguyên tắc bù trừ”. Yêu cầu - Trung thực và hợp lý.
- Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với qui định của từng chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của ngƣời sử dụng và cung cấp đƣợc các thông tin đáng tin cậy, khi: Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính của doanh nghiệp. Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng. Trình bày khách quan, không thiên vị. Tuân thủ nguyên tắc thận trọng.
Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu. Nguyên tắc Để đảm bảo đƣợc những yêu cầu đối với Bảng cân đối kế toán thì việc lập Bảng cân đối kế toán cần phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản: - Kinh doanh liên tục Khi lập và trình Bảng cân đối kế toán, cần dựa trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thƣờng trong tƣơng lai gần, trừ khi doanh nghiệp có ý định cũng nhƣ buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể qui mô hoạt động của mình. Nếu có sự kiện này thì cần đƣợc nêu rõ, cùng với cơ sở dùng để lập báo cáo tài chính và lý do khiến cho doanh nghiệp không đƣợc coi là đang hoạt động liên tục. - Nguyên tắc cơ sở dồn tích Theo cơ sở kế toán dồn tích, các giao dịch và sự kiện đƣợc ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền và đƣợc ghi nhận vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của các kỳ kế toán liên quan.
Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc phù hợp không cho phép ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán những khoản mục không thoả mãn định nghĩa về tài sản hoặc nợ phải trả.