chương 1 giới thiệu bối cảnh nghiên cứu để ra đời đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục luận văn. Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu và các nghiên cứu trước đây. Chương 3 trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích và thảo luận. Chương 4 trình bày kết luận về đề tài nghiên cứu và đề xuất một số khuyến nghị đồng thời làm rõ những hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Đề tài sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh (DFID, 2001) nhằm xác định yếu tố hình thành sinh kế của con người và những mối quan hệ tác động của các chính sách đến các yếu tố đó. Khung phân tích sinh kế bền vững theo DFID TÀI SẢN SINH KẾ KẾT QUẢ SINH BỐI CẢNH DẼ TỔN CÁC CƠ CẤU VÀ QUY THƯƠNG TRÌNH CHUYỂN ĐỔI KẾ Vốn con người Tăng thu nhập Các cú sốc CƠ CẤU: Tăng phúc lợi Vốn tự nhiên Vốn xã hội Thể chế Các xu ẢNH Giảm tổn CHIẾ HƯỞNG & Chính quyền thương N hướng * Phápluật LƯỢ Vốn vật chất TIẾP CẬN Vốn tài chính KV tư nhân * Chính sách C Cải thiện lương Tính mùa vụ SINH thực * Văn hóa KẾ Sử dụng bền vững các nguồn lực tự nhiên (Nguồn: DFID, 2001). Các khái niệm liên quan: 2.
Khái niệm sinh kế: Sinh kế của con người được hình thành dựa trên các yếu tố bao gồm năng lực của con người, tài sản vật chất và xã hội mà họ có thể tiếp cận và hoạt động cần thiết để phối hợp các nguồn lực trên nhằm mục đích kiếm sống (Chambers R. Sinh kế được gọi là bền vững khi nó có khả năng phản ứng tự vệ trước các tổn thương mà không cần sự hỗ trợ nhất thời từ bên ngoài, đồng thời không gây ảnh hưởng bất lợi đến sinh kế của người khác và không làm giảm nguồn tài nguyên có thể khai thác của thế hệ tương lai (DFID,2001). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm bối cảnh tổn thương: Là những tình huống bất lợi xảy ra nhưng con người không có khả năng đối phó (GLOPP,2008,tr3).
Có 3 loại tổn thương: - Các cú sốc có thể kể đến như tai nạn, bệnh tật, thiên tai hoặc dịch bệnh làm cho suy giảm tài sản của hộ gia đình. - Các xu hướng có thể xảy ra trong tương lai như sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên, hạn hán do biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến hoạt động trồng trọt, chăn nuôi của hộ gia đình, hoặc các xu hướng biến động kinh tế gây bất lợi cho cá nhân hoặc hộ gia đình. - Tính mùa vụ: là sự thay đổi theo chu kỳ sinh trưởng cuả động thực vật, hoặc tính biến động theo mùa của thị trường, gây ra các xáo trộn có tính chu kỳ. Khái niệm tài sản sinh kế: Tài sản sinh kế có 5 loại: Vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội (DFID, 2001).
Nguồn vốn con người gồm các năng lực cụ thể của con người như kiến thức, kĩ năng và năng lực tiềm tàng thuộc về mỗi cá nhân để giúp họ tạo ra phúc lợi cho bản thân và cho xã hội (OECD, 2001, tr. Khảo sát ở cấp độ hộ gia đình, vốn nhân lực được thể hiện ở năm yếu tố: số nhân khẩu trong hộ, số lao động tạo thu nhập cho gia đình, trình độ giáo dục, kiến thức và kĩ năng của các thành viên hộ (FAO, 2005, tr. Nguồn vốn xã hội là mối quan hệ kết nối những con người khác nhau trong xã hội để phối hợp hoạt động có hiệu quả không chỉ dựa trên cơ sở của niềm tin, sự hiểu biết lẫn nhau mà còn dựa trên các giá trị chia sẻ cho nhau (Don Cohen & Laurence Prusak, 2001, tr. Nguồn vốn tự nhiên là các yếu tố thuộc về tài nguyên thiên nhiên mà con người có thể khai thác và sử dụng để tạo ra giá trị một cách trực tiếp hay gián tiếp (Natural Capital -14- Committee, 2013, tr.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng đối với những người mà hoạt động sinh kế căn bản phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên (trồng trọt, chăn nuôi, khai thác sử dụng các sản phẩm từ rừng). Nguồn vốn vật chất: bao gồm tài sản công cộng và tài sản sở hữu tư nhân. Tài sản công cộng gồm cơ sở hạ tầng kĩ thuật như: đường sá, phương tiện giao thông công cộng, nguồn nước sạch, hệ thống điện, hệ thống truyền thông tin và cơ sở hạ tầng xã hội trường học, cơ sở y tế, chợ. Tài sản thuộc sở hữu tư nhân gồm các phương tiện phục vụ sinh hoạt và sản xuất.
Đối với người dân đang sống tại lõi rừng của Khu Bảo tồn tài sản vật chất của họ gồm: nhà cửa, xe cộ, máy móc, trang thiết bị sinh hoạt và sản xuất, dụng cụ lao động, động vật nuôi. Nguồn vốn tài chính: được hiểu là tiền và các khoản tương đương tiền có thể dễ dàng quy đổi thành tiền để phục vụ cho việc đạt được các mục tiêu sinh kế. Vốn tài chính thể hiện dưới dạng nguồn thu nhập, tiết kiệm tiền mặt, các khoản tín dụng, bảo hiểm, trang sức, vật nuôi, trợ cấp. Các cơ cấu và các quy trình chuyển đổi đề cập đến môi trường thể chế, cách thức tổ chức cùng với sự hiện diện của các chính sách, các quy định pháp luật ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế của người dân (DFID, 2001).
Tổng quan các nghiên cứu trước: Nghiên cứu tình huống sinh kế của người dân tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu tác giả dựa vào 3 nghiên cứu của một số tác giả trước đó có sử dụng khung phân tích DFID như sau: Về vấn đề giải quyết chính sách định canh, định cư tác giả đã tham khảo nghiên cứu của Dương Minh Ngọc (2013) thực hiện nghiên cứu về tình huống người dân di cư vào cư trú giữa rừng Buôn Ya wầm trên địa bàn xã EA KIẾT huyện Cư Mgar, tỉnh Đắc Lắc. Chủ rừng đã phối hợp với chính quyền địa phương di dân ra khỏi rừng bố trí khu vực định canh định cư có chính sách hỗ trợ cấp 600m2 đất ở, cấp bảo hiểm y tế miễn phí, hỗ trợ tiền di chuyển với mức 5 triệu đồng mỗi hộ và cấp mỗi hộ 2 con heo giống để nuôi phát triển kinh tế gia đình. Ngoài ra, Nhà nước hợp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 thức hóa đất khai hoang trong rừng cho người dân tiếp tục sản xuất. Tuy nhiên sau hai năm khi dự án định cư, định canh hình thành chỉ có 51 hộ trong tổng số 131 hộ đang sống trong rừng chuyển vào khu định canh định cư bởi nếu hộ dân di chuyển ra ngoài sợ mất đất sản xuất, sợ bị thu hồi lại tài sản nếu hộ chuyển đi nơi khác, đi lại từ nơi ở đến nơi canh tác xa sợ bị phá hoại cây trồng trong khi đó nguồn nước nơi ở mới có nhiều lắng cặn làm người dân lo lắng.
Từ đó tác giả có những khuyến nghị đối với UBND tỉnh Đắk lắk phải bố trí nguồn vốn tăng mức hỗ trợ di dời, xây dựng hệ thống thoát nước để thu hút người dân đồng thời kiến nghị huyện Cư M’gar phải cưỡng chế các hộ dân cư trú trong rừng ra ngoài nhằm hạn chế tình trạng phá rừng đồng thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm lâm luật. Về vấn đề giải quyết sinh kế cho hộ dân tác giả tham khảo nghiên cứu tình huống của Nguyễn Xuân Vinh (2014) chính sách sinh kế kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tình huống được nghiên cứu tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Nghiên cứu này tác giả đã đề xuất mô hình sinh kế cộng đồng nhằm đem lại cho người dân sự cải thiện về khả năng tiếp cận các nguồn vốn vật chất và nguồn vốn tài chính bởi theo tác giả Nguyễn Xuân Vinh các hộ dân bị thiếu hụt nguồn vốn và kỹ thuật có thể được giải quyết bằng cách tham gia các mô hình sản xuất tập thể hợp tác xã và nhóm sản xuất có sự hỗ trợ của Nhà nước. Về vấn đề giải quyết di dời dân ra khỏi rừng đặc dụng tác giả tham khảo nghiên cứu của Đỗ Vũ Gia Linh (2015): “Cải thiện sinh kế cho người dân trong yêu cầu bảo tồn tài nguyên tại ấp 5 xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai”, khi thực hiện chủ trương di dời 1300 hộ dân ra khỏi rừng đặc dụng Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai.
Tuy nhiên dự án hình thành từ năm 2001 kéo dài 15 năm nhưng vẫn chưa thực hiện được vì thiếu nguồn lực từ đó tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị như ưu tiên giải quyết di dời cho hộ nghèo vì họ dễ thỏa hiệp đồng ý phương án hỗ trợ khi di dời, còn các hộ nhiều đất sản xuất kinh tế khá có thể ổn định tại chỗ để bảo vệ rừng. Bên cạnh đó tác giả đề xuất UBND tỉnh Đồng Nai mạnh dạn thực hiện thí điểm mô hình giao khoán đất rừng đặc dụng vì nó đã áp dụng thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đồng thời tác giả cũng khuyến nghị các cơ quan chức năng của tỉnh cần có chính sách hỗ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 trợ kỹ thuật chuyển đổi giống cây trồng như giống điều cao sản có năng suất chất lượng cao, hỗ trợ giống bò laisin để các hộ chăn nuôi và tổ chức các lớp dạy nghề cho đối tượng bị tác động để từng bước họ chuyển đổi nghề nghiệp giảm tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy. Về vấn đề tái định cư và nghiên cứu những người bị ảnh hưởng khi thực hiện dự án tác giả dựa vào nghiên cứu: “Cuốn cẩm nang tái định cư” của ngân hàng ADB trong đó đề cao chính sách tái định cư bắt buộc đã được Ban giám đốc của ngân hàng thông qua vào tháng 11 năm 1995.
Trong cuốn cẩm nang này nghiên cứu rất cụ thể những thiệt hại do tái định cư gây ra và những người được gọi là người bị ảnh hưởng.