CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ, QUẢN LÝ THUẾ VÀ THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 1. Những nội dung cơ bản về thuế tại Việt Nam 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế [10], [12], [15] Thuế ra đời mang tính tất yếu gắn liền với sự tồn tại của nhà nước. Như chúng ta đã biết, mỗi nhà nước muốn tồn tại thì phải có một nguồn vật chất nhất định để duy trì sự tồn tại và thực hiện chức năng của nhà nước.
Nguồn vật chất đó hình thành từ nhiều hoạt động khác nhau nhưng hoạt động chủ yếu vẫn là hoạt động thu thuế. Việc thu thuế tạo ra một nguồn thu tài chính lớn cho nhà nước, qua đó nhà nước có thể tồn tại và thực hiện chức năng của mình. Do vậy thuế là một hiện tượng tất yếu, xuât hiện và tồn tại cùng các hiện tượng kinh tế xã hội khác. Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế.
Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau. Ở Việt Nam, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế mà tùy theo cách nhìn nhận ở các góc độ khác nhau, người ta có thể hiểu khác nhau về thuế: Theo từ điển Tiếng Việt (Xuất bản năm 1977) thì thuế là phần tiền hoặc sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước. Ở góc độ nghiên cứu về Kinh tế Chính trị học thì khái niệm về thuế là hình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành nên các quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. 5 Ở góc độ người thu thuế thì thường hiểu thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo nghĩa vụ do Pháp luật quy định.
Thuế là khoản thu không phải hoàn trả ngang giá và trực tiếp. Ở góc độ NNT thì hiểu thuế là khoản bắt buộc phải nộp cho Nhà nước theo quy định. Các quan niệm trên có thể đúng nhưng ở những góc độ khác nhau. Cách hiểu như vậy chưa đầy đủ và chính xác.
Nhưng hiện nay các nhà kinh tế đều nhất trí kết luận rằng: Thuế là một khoản thu của Nhà Nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội. Khoản thu này mang tính bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp do Pháp luật của Nhà nước quy định, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội. Như vậy, đã có nhiều khái niệm khác nhau về thuế. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú ý các đặc điểm sau: - Trong xã hội hiện đại, thuế là khoản đóng góp bằng tiền.
Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường. - Thuế là khoản đóng góp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường quyền lực chính trị. Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, được thực hiện thông qua con đường quyền lực nhà nước (qua hệ thống pháp luật thuế). Do đó, đối tượng nộp thuế bắt buộc phải tuân thủ các quy định pháp luật về kê khai, nộp thuế.
Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện. - Thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước trong việc thực hiện các 6 chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước. Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho NNT (tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho NNT thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế.
Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho NNT. Sau khi thu thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho NNT. Vai trò của thuế Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của NSNN mà còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu các vấn đề của tài chính và NSNN, chúng ta sẽ xem xét thuế với các vai trò cơ bản của nó như sau: Thứ nhất, thuế đảm bảo nguồn thu cho NSNN Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác.
Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện. Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng. Ở Việt Nam, thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của NSNN từ năm 1990 và điều này được thể hiện qua tỷ trọng số thuế trong tổng thu NSNN hàng năm. Thứ hai, thuế góp phần phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau: một thiểu số người sẽ giàu có lên 7 nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ở mức thu nhập thấp.
Thực tế, sự phát triển của một đất nước là kết quả nỗ lực của cả một công đồng, sẽ không công bằng nếu không chia sẻ thành qủa phát triển kinh tế cho mọi người. Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nước vào quá trình phân phối thu nhập, sự can thiệp này đặc biệt hiệu qủa bằng cách sử dụng công cụ thuế. Với các sắc thuế như: Thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế Thu nhập… theo hướng thuế đánh cao vào những hàng hóa dịch vụ cao cấp, người có thu nhập cao nhằm điều tiết bớt thu nhập của các DN, cá nhân có thu nhập cao. Đồng thời thuế đánh thấp vào những hàng hóa dịch vụ cần thiết cho đại bộ phận dân chúng.
Như vậy, việc qui định về đối tượng chịu thuế, thuế suất từng ngành hàng như trên bên ngoài như là một sự cưỡng chế nhưng bên trong nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định. Thứ ba, thuế có chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường Đây là vai trò không kém phần quan trọng bởi vì chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu đầu tư và đến sự phát triển hoặc suy thoái của một nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết sản xuất và thị trường nhằm xác lập một cơ cấu kinh tế hợp lý; có những ngành kinh tế tác động đến sự tăng trưởng kinh tế ( kinh tế công cộng ) nhưng lại không được các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế quan tâm vì lợi nhuận không cao, cần có sự đầu tư của nhà nước. Đồng thời, việc phân biệt thuế suất đối với từng loại sản phẩm, ngành hàng tự nó đã góp phần điều chỉnh giá cả, quan hệ cung cầu và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư những sản phẩm, ngành hàng theo đúng định hướng của nhà nước và việc ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành nghề cũng góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế.
Hệ thống chính sách thuế Việt Nam Là một chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng, chính sách thuế của Việt Nam đã trải qua 3 bước cải cách căn bản: Bước 1 là từ 1990-1995, bước 2 là từ 1996-2004 và bước 3 là từ 2005-2010. Trọng tâm của các bước cải cách 1, 2 là xây dựng một hệ thống quy định pháp luật về thuế quy chuẩn, tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho các hoạt động của nền kinh tế và tài khóa quốc gia; Bước đầu tạo sự phù hợp của hệ thống thuế Việt Nam với thông lệ quốc tế, đảm bảo được tính tương thích với các nền kinh tế thị trường trong khu vực, hướng tới giai đoạn hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Giai đoạn cải cách bước 3 hướng đến việc sửa đổi các sắc thuế hiện hành như thuế GTGT, thuế TNDN, thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên và ban hành những loại thuế mới như thuế TNCN, theo xu hướng tăng dần tỷ trọng thuế trực thu, tương ứng giảm dần tỷ trọng thuế gián thu, phù hợp với giai đoạn hội nhập và thực hiện các cam kết quốc tế. Việc thực hiện các cam kết quốc tế đa phương và song phương dẫn đến sự cắt giảm đáng kể nguồn thu từ thuế nhập khẩu; Thu nhập từ dầu thô cũng giảm sút.
Năm 2011, Chính phủ ban hành Chiến lược cải cách hệ thống thuế Việt Nam trong giai đoạn tới năm 2020 (Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011). Mục tiêu tổng quát của chiến lược này là (1) Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, công bằng, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) Mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước; (3) Là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả; (4) Xây dựng ngành Thuế Việt Nam hiệu quả, công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện. Đi kèm với đó là các mục tiêu cụ thể. Sau hơn 20 năm thực hiện Chương trình cải cách, hệ thống thuế được xây dựng và hoàn thiện dần theo thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bao gồm các loại thuế, khoản thu sau đây: Thuế GTGT; Thuế TTĐB; 9 Thuế TNDN; Thuế Tài nguyên; Thuế Bảo vệ môi trường; Thuế TNCN; Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Thuế môn bài; Các khoản thu về đất: Tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; Các loại phí, lệ phí và một số khoản thu khác 1.