Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng đường sắt. - Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dự án tại ban quản lý dự án giai đoạn 2018-2022 - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đường sắt tại Ban quản lý dự án Đường sắt. CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE QUAN LY DU AN DAU TU XAY DUNG NGANH DUONG SAT 1.1 Co sở ly luận về dự án đầu tư xây dựng 1.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng Hiện nay, khái niệm dự án đầu tư xây dụng được hiểu theo rất nhiều chiều hướng. Trong đó, các khái niệm tiêu biểu như sau: “Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiễn độ nhằm tạo ra một thực thể mới.” (Nguồn: Từ Quang Phương (2008), Giáo trình Quản lý dự án, NXB Đại hoc Kinh tế Quốc dân, Hà Nội) “DAĐT là tổng thể các hoạt động va chi phí cần thiết, được bó trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.” (Nguôn: Nguyên Bạch Nguyệt (2012), Giáo trình Lập dự án dau tư, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội) Theo Khoản 15 Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014, được viết: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dung vốn dé tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhăm phát triển, duy tri, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng.” Trong Khoản 13 Điều 4 Luật Đầu tư công năm 2019 quy định: “Dự án đầu tư công là dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công.” Ngoài ra, tại Khoản 4 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020 quy định: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn dé tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thê, trong khoảng thời gian xác định.” Qua đó còn tùy thuộc vao mục đích sử dụng và tính chất của dự án nên DAĐT xây dựng được phát biểu theo nhiều hướng khác nhau. Tuy nhiên, dé tổng kết thì DAĐT có những điều cơ bản sau: - Về mặt nội dung: DAĐT là tập hợp những việc có liên quan tới nhau dé đạt được những mục đích thông qua việc sử dụng những nguồn lực: máy móc, con người, công nghé,. - Về nguồn lực: Công nghệ khoa học, vốn, nhân công, máy móc, tài nguyên, nguyên vật liệu,. - Về hình thức: DADT là tập hồ sơ tài liệu tại đó các nội dung công việc và chi phí được trình bày một cách chi tiết theo kế hoạch nhất định và có hệ thống dé có kết quả và mục tiêu cụ thể trong tương lai.
- VỀ mục tiêu kinh tế xã hội: + Với CDT: Mục tiêu là thu hồi được vốn sau đó tạo ra lợi nhuận và chỗ đứng phát triển cho doanh nghiệp + Với xã hội: Phủ hợp với quá trình định hướng phát triển của xã hội, tạo công ăn việc làm và sản phâm dịch vụ cho xã hội, bảo vệ môi trường tài nguyên. - Về kết quả: : Cụ thể, có thể định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án; 1.2 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng: Các dự án nói chung và dự án đầu tư xây dựng nói riêng thường có các đặc điểm sau: Thứ nhất, luôn có các mục tiêu rõ ràng, bao gồm những mục tiêu về chức năng của dự án như: công suất, chỉ tiêu về kinh tế kỹ thuật và mục tiêu ràng buộc như thời hạn hoàn thành, chi phí và chất lượng. Bên cạnh đó mục tiêu ở đây còn được thé hiện trên hai khía cạnh bao gồm mục tiêu cụ thể và mục tiêu tổng thế. Trong đó mục tiêu cụ thê là những kết quả trước mắt mà DA cần phải đạt được còn mục tiêu tông thể là các lợi ích đối với KT-XH; Thứ hai, sản phẩm của DAĐTXD là công trình xây dựng mang tính đơn chiếc, hoàn toàn duy nhất và không phải là sản phẩm của một quá trình sản xuất liên tục, hàng loạt; Thứ ba, DAĐTXD luôn bị ràng buộc bởi các nguồn lực được xác định từ trước là thời gian thực hiện, tiền vốn, vật tư thiết bị, nhân lực, công nghệ, kỹ thuật,.
Nguồn lực chính là nguyên liệu đầu vào dé thực hiện dự án và các nguồn lực này rất đa dạng tùy vào các dự án khác nhau; Thư tư, DTXD là một lĩnh vực có độ rủi ro cao và chủ yếu là do thời gian thực hiện kéo đài dẫn đến nhiều hệ lụy nguy hiểm khác. Ngoài ra các rủi ro như chính sách kinh tế, chính trị, những biến chuyền trong xã hội, thời tiết,. cũng góp phần gây ra rủi ro rất lớn cho việc thực hiện DAĐTXD; Thứ nam, sản pham của DADTXD thường có kích thước và trọng lượng tương đối lớn. Do đó số lượng, chủng loại vật tư vật liệu, thiết bị máy móc, các loại phương tiện dùng trong thi công và loại lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng vô cùng khác nhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công khiến cho giá thành sản phẩm rất phức tạp và thường xuyên thay đồi theo từng khu vực, từng thời kỳ Thứ sau, DAĐTXD có sự tham gia của nhiều chủ thể, đó là chủ đầu tư, đơn vị thiết kế, đơn vị xây dựng, đơn vi giám sát, các nhà cung ứng,.
Các chủ thể này làm việc với nhau trong suốt thời gian thực hiện DA với mục đích đạt được kết quả tốt nhất. Tuy nhiên ho cũng có những lợi ích riêng biệt, mối quan hệ giữa các chủ thé này thường mang tính đối tác nhưng cũng dễ xảy ra xung đột về quyền lợi; Thứ bay, DADTXD liên quan đến đa ngành nghề, lĩnh vực và diễn ra ở nhiều phạm vi dia lí, cảnh quan, môi trường tự nhiên, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương nơi đặt công trình.3 Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng Nhìn chung, DAĐT được xây dựng từ một quá trình gồm nhiều giai đoạn, các giai đoạn này có mối quan hệ chặt chẽ, diễn ra liên tiếp nhưng có tính độc lập tương đối với nhau tạo thành chu trình hoàn thiện của dự án. Quy trình của dự án được chia ra làm ba giai đoạn lần lượt: Chuẩn bị dự án; Thực hiện dự án và Kết thúc dự án đưa công trình vào khai thác sử dung. Trình tự thực hiện đầu tư xây dựng theo quy định tại Điều 4 của Nghị định 15 quy định chỉ tiết một số nội dung về quản ly dự án đầu tư xây dung, cụ thé như sau: - Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: khảo sát xây dựng; lập, thâm định, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có); lập, thâm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dung phục vụ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng; lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi để phê duyệt/quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án; - Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công vIỆc: chuẩn bị mặt băng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thâm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng: cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; vận hành, chạy thử; nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng; ban giao công trình đưa vào sử dụng và các công việc cần thiết khác; - Giai đoạn kết thúc xây dựng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán dự án hoàn thành, xác nhận hoàn thành công trình, bảo hành công trình xây dựng, bản giao các hồ sơ liên quan và các công việc cần thiết khác.2 Cơ sở lý luận về dự án đầu tư xây dựng đường sắt 1.
Khái niệm dự án đầu tư xây dựng đường sắt Dự án xây dựng đường sắt là một kế hoạch hoặc chương trình nhằm xây dựng các hệ thống đường sắt, trong đó có các công trình như đường ray, bến xe, cầu đường, nhà ga, điện nguồn và các hệ thống liên quan khác. Mục đích của dự án xây dựng đường sắt là tạo ra một hệ thống giao thông hàng hóa và người ở chất lượng cao, cải thiện việc di chuyền, kết nối các khu vực, tăng năng suất và cải thiện chất lượng cuộc sông của người dân. Dau tư xây dựng đường sắt cũng có thể giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào các phương tiện giao thông cá nhân và giảm tắc đường và ô nhiễm môi trường. Các dự án xây dựng đường sắt thường được triển khai bởi các chính phủ, các tổ chức đầu tư hoặc các công ty xây dựng lớn.
Theo Khoản 1 Điều 10 Luật Đường sắt 2017, hệ thống đường sắt Việt Nam được quy định như sau: “ a) Đường sắt quốc gia phục vụ nhu cầu vận tải chung của cả nước, từng vùng kinh tế và liên vận quốc tế; b) Đường sắt đô thị phục vụ nhu cầu vận tải hành khách ở đô thị và vùng phụ cận; c) Đường sắt chuyên dùng phục vụ nhu cầu vận tải riêng của tô chức, cá nhân. Trong đó, đường sắt Quốc gia được chia thành nhiều tuyến đường sắt qua nhiều ga khác nhau (là đường sắt đi từ ga đầu tiên đến ga cuối cùng của một hành trình). Trên đường sắt Quốc gia có tàu khách, tàu hàng được lập bởi một hay nhiều đầu máy, toa xe không tự vận hành, toa xe động lực, phương tiện chuyên dùng trên đường sắt. Đường sắt đô thị bao gồm: xe điện bánh sắt, tàu cao tốc, đường | ray tự động dẫn hướng, tàu điện chạy nổi và ngầm.
Đường sắt đô thị được xây dựng kiểu chạy trên cao, chạy ngầm (chạy dưới lòng đất).