Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài hoàn thiện công tác thẩm định DAĐT tại Ngân hàng và sự cần thiết của đề tài. Chương 2: Lý luận về DAĐT và thẩm định DAĐT vay vốn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại. Chương 3:Thực trạng công tác thẩm định DAĐT vay vốn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại SGD Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định DAĐT vay vốn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại SGD Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
6 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ VAY VỐN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Tổng quan về các doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa. Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau: Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%). Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể.
Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. 7 Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động.
Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. Đóng góp không nhỏ giá trị GDP cho quốc gia. Do vài trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều quốc gia đã chú trọng công tác khuyến khích loại hình doanh nghiệp này phát triển.
Các hỗ trợ mang tính thể chế để khuyến khích bao gồm: các hỗ trợ nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi (xây dựng và ban hành các luật về doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo thuận lợi trong cấp giấy phép, cung cấp thông tin, v.), những hỗ trợ bồi dưỡng năng lực doanh nghiệp (đào tạo nguồn lực quản lý, hỗ trợ về công nghệ, v.), và những hỗ trợ về tín dụng (thành lập ngân hàng chuyên cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay, bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp, thành lập các công ty đầu tư mạo hiểm, v.), và những hỗ trợ khác (như mặt bằng kinh doanh). Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ Việt Nam (VINASME) , có đến 96% doanh nghiệp đăng ký ở Việt Nam là DNVVN. Khối này tạo ra đến 40% tổng sản phẩm quốc nội, tạo ra hơn 1 triệu việc làm mới mỗi năm, chủ yếu mang lại lợi ích đặc biệt cho nguồn lao động chưa qua đào tạo. Trong nhiều năm tới, khối DNVVN vẫn là động cơ chạy chính cho nền kinh tế Việt Nam.
Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế, là khối này cũng chỉ phát triển mạnh trong những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận khiêm tốn, công nghệ thấp do không có lợi thế về quy mô (tiềm lực tài chính, địa bàn hoạt động, thị phần…) mà thường tập trung vào các vấn đề như lựa chọn mục tiêu kinh doanh phù hợp với khả năng, ổn định, củng cố thị phần đã có hay phát triển thị trường từng bước và có chọn lọc khâu, điểm đột phá thuận lợi nhất. Các DNVVN vẫn phải tự vận động và liên kết để hợp tác kinh doanh mà thiếu vắng vai trò rõ nét của chính sách nhà nước. 8 Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa để áp dụng chế độ kế toán theo QĐ 15/2006 hay 48/2006: thì căn cứ vào tiêu chí TỔNG NGUỒN VỐN hoặc SỐ LAO ĐỘNG theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP: I. Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản, Công nghiệp và xây dựng: - Doanh nghiệp siêu nhỏ: Số lao động 10 người trở xuống - Doanh nghiệp nhỏ: Tổng nguồn vốn 20 tỷ đồng trở xuống hoặc Số lao động từ trên 10 người đến 200 người - Doanh nghiệp vừa: Tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc Số lao động từ trên 200 người đến 300 người II.
Khu vực Thương mại và dịch vụ: - Doanh nghiệp siêu nhỏ: Số lao động 10 người trở xuống - Doanh nghiệp nhỏ: Tổng nguồn vốn 10 tỷ đồng trở xuống hoặc Số lao động từ trên 10 người đến 50 người - Doanh nghiệp vừa: Tổng nguồn vốn từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng hoặc Số lao động từ trên 50 người đến 100 người 2/ Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa để Gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế GTGT năm 2013 theo TT 16/2013/TT-BTC: thì căn cứ vào tiêu chí DOANH THU và SỐ LAO ĐỘNG: Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ là doanh nghiệp sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng. Tổng quan về dự án đầu tư 2. Khái niệm đầu tư và dự án đầu tư 2. Đầu tư Đầu tư là hoạt động bỏ vốn dài hạn nhằm thu lợi trong tương lai.
Hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng đối với bất kì tổ chức kinh tế nào cũng như đối với sự phát triển của nền kinh tế. Ngày nay, nhằm tối đa hóa hiệu quả, các hoạt động đầu tư thường được thực hiện theo dự án. Dự án đầu tư Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hợp các hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có hệ thống về các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt 9 được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định trong tương lai.
Theo ngân hàng thế giới: Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí có liên quan với nhau được hoạch định nhằm đặt được những mục tiêu nào đó trong một khoảng thời gian nhất định. Theo luật Đầu tư năm 2005: Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong một khoảng thời gian nhất định. Vai trò của dự án đầu tư Dự án đầu tư đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế bởi lẽ nó là phương tiện dịch chuyển và phát triển cơ cấu kinh tế, giải quyết quan hệ cung cầu về vốn, về sản phẩm dịch vụ trên thị trường, góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và và tinh thần cho nhân dân, cải tiến bộ mặt kinh tế xã hội cho đất nước. Cụ thể, vai trò của dự án đầu tư đối với các chủ thể trong nền kinh tế: Đối với chủ đầu tư: DAĐT là căn cứ quan trọng để quyết định bỏ vốn đầu tư.
DAĐT thường được xây dựng chặt chẽ trên cơ sở nghiên cứu kĩ lưỡng các yếu tố liên quan. Do đó, giúp nhà đầu tư có một cái nhìn tổng thể về dự án định triển khai để từ đó thấy được điểm mạnh, điểm yếu của dự án cũng như chuẩn bị đầy đủ các yếu tố cần thiết cho việc triển khai dự án sau này. Đối với Nhà nước: DAĐT giúp Nhà nước nắm bắt được đầy đủ các nội dung có liên quan đến dự án để xem xét dự án có phù hợp với chủ trương chính sách của mình hay không. Ngoài ra, Nhà nước còn đánh giá mức độ hiệu quả tính khả thi của dự án để từ đó lựa chọn những dự án tốt nhất cho thực hiện.
Qua đó, Nhà nước có thể thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của mình. Đối với NHTM: Khi tiếp nhận các dựa án xin tài trợ của chủ đầu tư, các nhà tài trợ sẽ căn cứ vào đó để phân tích, thẩm dịnh dự án về tất cả các khía cạnh liên quan, đặc biệt là thẩm định tài chính DAĐT để đưa ra quyết định có thể đầu tư hay 10 không đầu tư các dự án đó. Khác với Nhà nước, các NHTM đặt vấn đề lợi nhuận của mình lên hàng đầu cho nên dự án chỉ được đầu tư vốn nếu mang tính khả thi. Các NHTM cũng dựa vào dự án để lập kế hoạch cấp vốn cho vay theo tiến độ thực hiện, lập kế hoạch thu hồi vốn vay và kiểm tra, đôn đốc giám sát DA.
Chu trình của dự án đầu tư Bất kì một dự án đầu tư nào cũng phải được hình thành từ một ý tưởng ban đầu của nhà đầu tư.