đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng. - Những hàng hoá dịch vụ phi lợi nhuận hoặc thuộc những hoạt động ưu đãi vì mục tiêu xã hội, nhân đạo. Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế tiêu thụ đặc biệt là sắc thuế đánh vào việc tiêu dùng một số mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ chịu thuế theo quy định của từng nước. Bản chất của thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế tiêu dùng bổ sung đánh vào việc tiêu dùng những mặt hàng được phân loại tiêu dùng có tính chất đặc biệt theo quy định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trừ những trường hợp không thuộc diện chịu thuế được quy định rõ.
Thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ nộp một lần ở cơ sở sản xuất, nhập khẩu hoặc cung ứng dịch vụ. Thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là một khoản thu bắt buột đối với các tổ chức và cá nhân có hoạt động khai thác những tài nguyên thiên nhiên thuộc đối tượng Luan van 15 chịu thuế theo luật định, không phụ thuộc vào cách thức tổ chức và hiệu quả sản xuất - kinh doanh của người khai thác. Đối tượng nộp thuế là các Doanh nghiệp có khai thác tài nguyên thiên nhiên theo đúng quy định của pháp luật Số thuế tài nguyên phải nộp được tính căn cứ vào sản lượng tài nguyên thương phẩm khai thác thực tế, giá tính thuế đơn vị và thuế suất đối với từng loại tài nguyên khai thác. Thuế xuất, nhập khẩu Thuế xuất, nhập khẩu là loại thuế mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất, nhập khẩu hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới hoặc đưa hàng hòa từ thị trường vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước phải nộp trừ một số trường hợp được quy định cụ thể.
Trường hợp xuất hoặc nhập khẩu uỷ thác thì tổ chức nhận uỷ thác là đối tượng nộp thuế. Thuế xuất, nhập khẩu được tính căn cứ vào các yếu tố sau: - Số lượng hàng hóa xuất/nhập khẩu chịu thuế - Giá tính thuế - Thuế suất của từng mặt hàng Tùy thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, một DN cụ thể có thể nộp một số hoặc tất cả các loại thuế trên. Tuy nhiên, có hai loại thuế cơ bản mà mọi doanh nghiệp (trừ những đối tượng được miễn theo luật định) phải nộp là Thuế TNDN và Thuế GTGT. Ngoài ra, một số doanh nghiệp phải nộp một số loại thuế khác như: thuế sử dụng đất; thuế chuyển quyền sử dụng đất… Trong các loại thuế trên có những loại thuế trực thu mà doanh nghiệp đồng thời vừa là người nộp thuế vừa là người chịu thuế như: thuế TNDN.
Luan van 16 Ngược lại, có những loại thuế gián thu mà DN là người nộp thuế nhưng người chịu thuế lại là người mua, ví dụ: thuế GTGT; thuế tiêu thụ đặc biệt… 1. KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm kiểm tra thuế Kiểm tra thuế là một trong những nội dung của quản lý thuế. Theo đó, quản lý thuế là tăng cường vai trò điều tiết của thuế đối với các hoạt động kinh tế - xã hội, phù hợp với định hướng chung của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Theo đó, các nội dung tổng thể những tác động có định hướng của cơ quan thuế đến các đối tượng nộp thuế nhằm đạt được hai mục tiêu của hệ thống thuế: động viên đầy đủ, kịp thời và tuân thủ pháp luật. Nội dung của quản lý thuế được xếp theo trình tự bao gồm: - Quản lý khâu đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế. - Quản lý hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt. - Quản lý thông tin về người nộp thuế.
- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế. - Tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. - Tổ chức xử lý vi phạm pháp luật về thuế. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.
Có thể thấy kiểm tra thuế là một công đoạn của quy trình quản lý thuế được thực hiện bởi cơ quan quản lý thuế. Cơ quan thuế được tổ chức có thể khác nhau tùy theo mô hình tổ chức của từng nước. Ở Việt nam, cơ quan quản lý thuế bao gồm: cơ quan thuế và cơ quan hải quan. Hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý thuế không đồng nhất với chức năng kiểm soát trong cách tiếp cận theo các chức năng của hoạt động quản lý.
Đây là cách tiếp cận theo các nội dung công việc cụ thể của cơ quan quản lý thuế. Luan van 17 Kiểm tra thuế là việc cơ quan Thuế tiến hành kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế. Kiểm tra thuế và thanh tra thuế tuy là hai khái niệm gần nhau, cùng với mục đích phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm các hành vi vi phạm Pháp luật thuế; cùng cách thức và phương pháp tiến hành là xem xét hoạt động thực tế của người nộp thuế, qua đó phân tích, đánh giá, tính toán dữ liệu và xác minh, phát hiện xử lý hành vi vi phạm. Tuy nhiên, kiểm tra thuế và thanh tra thuế là hai hoạt động được tổ chức khác nhau trong công tác quản lý thuế.
Về cơ bản, Thanh tra thuế chỉ được Cơ quan Thuế có thẩm quyền thanh tra tại trụ sở người nộp thuế, theo các hình thức: Thanh tra thuế được thực hiện căn cứ vào kế hoạch thanh tra hàng năm và thanh tra đột xuất. Kế hoạch thanh tra hàng năm được lựa chọn dựa trên tiêu chí phân tích đánh giá rủi ro chuyên sâu; lựa chọn các DN có quy mô kinh doanh lớn, ngành nghề đa dạng, và đặc biệt nhằm so sánh đánh giá mức độ đóng góp NSNN của từng loại hình DN trên toàn tỉnh để hoạch định công tác thuế lâu dài. Còn đối với kiểm tra thuế, vẫn lập kế hoạch và được duyệt hàng năm, nhưng năng về số lượng cuộc kiểm tra đảm bảo chỉ tiêu đề ra của Tổng cục Thuế. Mặt khác, thời gian tiến hành cuộc thanh tra thuế và kiểm tra thuế cũng khác nhau.
Thanh tra thuế được thực hiện trong thời gian 30 ngày làm việc; kiểm tra thuế chỉ được thực hiện trong thời gian 05 ngày làm việc. Thanh tra đột xuất được cơ quan Thuế có thẩm quyền tiến hành trên diện rộng cả tỉnh khi phát hiện tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế nghiêm trọng(chẳng hạn trốn thuế.), thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính. Một điểm khác nữa là, thanh tra thuế chỉ được thực hiện tại trụ sở Luan van 18 người nộp thuế, không thực hiện tại Trụ sở cơ quan Thuế. Trong khi kiểm tra thuế bao gồm cả thực hiện tại trụ sở cơ quan thuế.
Căn cứ Luật Quản lý thuế thì cơ quan Thuế có thẩm quyền thanh tra được quy định chỉ ở cấp Cục Thuế. Chi cục Thuế không có chức năng này. Các hình thức kiểm tra thuế đối với DN Việc kiểm tra thuế có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức đa dạng. Có thể phân loại các hình thức này theo nhiều tiêu thức khác nhau: a.
Căn cứ vào tính chất kế hoạch của hoạt động kiểm tra Hoạt động kiểm tra có hai hình thức là kiểm tra theo chương trình, kế hoạch và kiểm tra đột xuất. - Kiểm tra thuế theo chương trình, kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt. Căn cứ vào nguồn lực hiện có, tình hình chấp hành pháp luật thuế trên địa bàn và mục tiêu quản lý thuế, cơ quan thuế xây dựng kế hoạch kiểm tra và trình cấp thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra thuế được phê duyệt. - Kiểm tra thuế đột xuất được tiến hành khi phát hiện người nộp thuế thuộc địa bàn quản lý có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao.
Căn cứ phạm vi kiểm tra thuế Theo tiêu thức này, kiểm tra thuế được chia thành hai hình thức là kiểm tra toàn diện và kiểm tra hạn chế. * Kiểm tra thuế toàn diện: là hoạt động kiểm tra được tiến hành trên tất cả các vấn đề có liên quan đến việc tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế. Tính chất toàn diện thể hiện ở những điểm sau: + Kiểm tra tất cả sắc thuế mà Doanh nghiệp (với tư cách người nộp thuế) phải nộp. Luan van 19 + Nhiều kỳ tính thuế - đối với những sắc thuế nộp Hồ sơ khai thuế năm thì thời kỳ kiểm tra là những kỳ tính thuế gần nhất và chỉ khi có các phát hiện trong quá trình kiểm tra thấy cần thiết mới mở rộng phạm vi kiể m tra.
Đối với những sắc thuế nộp tờ khai tháng thì thời kỳ kiểm tra thường là kỳ tính thuế gần nhất cộng với 2 kỳ tính thuế nữa, tuy nhiên kiểm tra dạng này thường là ngoại lệ. Hình thức kiểm tra này có ưu điểm là xem xét các vấn đề vừa sâu vừa toàn diện cho phép có cơ sở vững chắc để kết luận về mức độ tuân thủ pháp luật thuế của DN. Nhược điểm là đòi hỏi các yêu cầu về nhân lực, tốn kém chi phí. * Kiểm tra hạn chế: Kiểm tra hạn chế là loại kiểm tra có giới hạn về phạm vi.
Giới hạn đó có thể là: - Chỉ giới hạn trong một hoặc một số sắc thuế, chứ không phải toàn bộ các sắc thuế mà NNT phải nộp, ví dụ: chỉ kiểm tra về thuế GTGT. - Giới hạn về nội dung kiểm tra. Chẳng hạn chỉ kiểm tra một số chỉ tiêu nhất định và không bao gồm các phép thử hay các bước tuần tự kiểm tra cần thiết cho phép người kiểm tra đánh giá được tổng thể mức độ tuân thủ hay không tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế chịu sự kiểm tra. Căn cứ trình tự thời gian - Kiểm tra trước khi chấp nhận - Kiểm tra trong phương thức tự khai, tự nộp (hay gọi là hậu kiểm) d.
Căn cứ vào địa điểm tiến hành kiểm tra Đây là cách phân loại quan trọng nhất đối với các hình thức kiểm tra thuế. Theo cách phân loại này, hoạt động kiểm tra thuế bao gồm hai hình thức: * Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế Hình thức này còn được gọi là “kiểm tra tại bàn”.