Chương 1: Lý luận chung về hoạt động kiểm tra thuế của cơ quan Thuế. Chương 2: Thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế huyện Kiến Thụy, Thành phố Hải Phòng. Chương 3: Biện pháp hoàn thiện công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế huyện Kiến Thụy, Thành phố Hải Phòng. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA THUẾ CỦA CƠ QUAN THUẾ 1.
Khái niệm, vai trò, nguyên tắc của công tác kiểm tra thuế 1. Khái niệm về công tác kiểm tra thuế Kiểm tra nói chung và kiểm tra thuế nói riêng là công cụ quan trọng của chính quyền để theo dõi, phân tích các nhiệm vụ và mục tiêu đề ra, từ đó có những đánh giá, nhận xét đối với công tác kiểm tra thuế và nó có tính chất phản hồi. Theo Luật số 21/2012/QH sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế thì: “Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên, mang tính chất nghiệp vụ của cơ quan quản lý thuế được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan Thuế dựa trên hồ sơ khai thuế của người nộp thuế và kiểm tra thuế được thực hiện tại trụ sở người nộp thuế”[15, tr. Việc tổ chức và xây dựng kế hoạch để thực hiện các mục tiêu đối với hoạt động quản lý của cơ quan Thuế và sau cùng là tiến hành kiểm tra thuế.
Để đạt hiệu quả cao trong quá trình hoạt động của cơ quan Thuế phụ thuộc lớn vào việc kiểm tra thuế vì nó tác động trở lại để cơ quan Thuế có kế hoạch hợp lý và xây dựng chủ trương phù hợp với tình hình thực tiễn. Quản lý thuế bao gồm 4 chức năng chính, trong đó kiểm tra thuế là chức năng quan trọng nhất. Cơ quan Thuế tôn trọng kết quả tự khai, tự tính, tự nộp thuế của người nộp thuế, việc thực hiện các biện pháp kiểm tra, giám sát đối với việc nộp thuế của người nộp thuế vừa đảm bảo tính công bằng, vừa khuyến khích sự tự nguyện và ngăn ngừa các trường hợp cố tình trốn thuế. Kiểm tra thuế cũng giúp người nộp thuế nhận ra rằng Nhà nước luôn có những biện pháp giám sát, kiểm tra để tránh gian lận và kịp thời phát hiện ra các hành vi vi phạm pháp luật về thuế [14],[15].
Nhằm đảm bảo luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh, cơ quan Thuế tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế và tìm ra những giao dịch phát sinh nghĩa vụ nộp thuế và việc 6 chấp hành nộp thuế của người nộp thuế. Vai trò của công tác kiểm tra thuế Để hoàn thiện các cơ chế, chính sách của Nhà nước về thuế thì kiểm tra thuế là khâu quan trọng nhất để đảm bảo các mục tiêu được đề ra. Việc tồn tại nhiều sắc thuế khác nhau trong hệ thống thuế của nước ta, trong đó mỗi sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội và có những phương pháp quản lý thu khác nhau để tối ưu hóa quá trình thu thuế của cơ quan Thuế [14], [15]. Xã hội ngày càng phát triển dẫn đến những bất cập về việc quản lý thuế.
Nếu không có quy định cụ thể của chính sách, pháp luật về thuế thì người nộp thuế sẽ dễ phát sinh những hành vi lợi dụng kẽ hở của chính sách thuế và sâu xa hơn là Nhà nước không thể kiểm soát được. Khi đó kiểm tra thuế ra đời để giải quyết vướng mắc đó. Tuy nhiên, không phải chính sách nào cũng đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của xã hội, cũng như không pháp luật nào là không có sai sót. Nhưng khi có kiểm tra thuế thì mọi việc kiểm tra trở nên dễ dàng hơn, mọi hoạt động tiêu cực sẽ được hạn chế hơn, kịp thời ngăn chặn để giảm thiểu tổn thất ít nhất cho Nhà nước có thể.
Vì vậy kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong việc quản lý thuế của Nhà nước. Nguyên tắc kiểm tra thuế Để hướng dẫn người nộp thuế thực hiện đúng đường lối, giảm bớt sai phạm gây thâm hụt ngân sách Nhà nước và góp phần hoàn thiện quy định về thuế đó chính là mục đích của kiểm tra thuế. Vậy muốn thực hiện được mục đích trên thì công tác kiểm tra thuế phải tuân thủ theo những nguyên tắc sau: Thứ nhất: Nguyên tắc tuân thủ pháp luật Đây là một trong những nguyên tắc hàng đầu giúp kiểm tra thuế được chuẩn mực nhất. Thực hiện theo đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước ban hành chính là phải thực hiện đúng chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cơ quan, ban, ngành.
Pháp luật là của Nhà nước, của nhân dân, mang lại công 7 bằng cho nhân dân. Khi đó, các cơ quan kiểm tra thuế phải nghiêm túc thực hiện, dựa theo điều luật mà xem xét hành vi vi phạm để xử lý hợp lý: đúng quyền hạn, đúng trách nhiệm, không được vượt quá quyền hạn chức năng của cơ quan, đơn vị để giảm thiểu tình trạng làm trái pháp luật [14]. Thứ hai: Nguyên tắc chính xác, khách quan Chính xác là chuẩn, là không sai lệch. Vậy nguyên tắc chính xác là trong công tác kiểm tra thuế phải xác định được đúng đối tượng, xử lý đúng người, đúng việc theo đúng pháp luật.
Vì vậy, nguyên tắc chính xác cũng là một trong những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động kiểm tra thuế [14]. Nguyên tắc khách quan trong công tác kiểm tra thuế là việc nhìn nhận vấn đề đúng với những gì vốn có của nó, không sai lệch, không đánh giá vấn đề một cách chủ quan [14]. Trong quá trình kiểm tra thuế tính chính xác và tính khách quan có quan hệ chặt chẽ, tương tác với nhau. Muốn thực hiện nguyên tắc khách quan thì bộ phận kiểm tra thuế phải cứng rắn, nghiêm túc, không bị dao động trước mọi diễn biến tiêu cực và ngược lại, muốn thực hiện nguyên tắc chính xác yêu cầu bộ phận kiểm tra phải có am hiểu về pháp luật về thuế sâu rộng, kiến thức vững vàng, có năng lực, hiểu biết, xử lý vấn đề nhanh nhẹn.
Thứ ba: Nguyên tắc công khai, dân chủ và kịp thời Công khai là gì? Giải thích theo hoạt động kiểm tra thuế thì nguyên tắc công khai được hiểu là phải công khai quyết định kiểm tra, công khai đối tượng kiểm tra, công khai biên bản kiểm tra cho người nộp thuế biết và được người nộp thuế nhất trí thực hiện. Bên cạnh đó, để đảm bảo lợi ích của Nhà nước cũng như người nộp thuế thì xét tính chất vụ việc để đưa ra hình thức công khai phù hợp, trong phạm vi cho phép để đạt được hiệu quả như mong muốn [14]. Dân chủ là gì? Dân chủ trong công tác kiểm tra thuế là gì? Dân chủ là dân làm chủ, lấy dân làm gốc. Còn dân chủ trong công tác kiểm tra cũng tương tự như vậy, phải thúc đẩy người nộp thuế tự nguyện tham gia hoạt động 8 kiểm tra ngăn ngừa tiêu cực, chống tham ô, tham nhũng, thúc đẩy người nộp thuế có ý thức nâng cao tích cực trong hoạt động kinh doanh, sản xuất.
Qua đó, cơ quan Thuế sẽ thu thập, phân tích ý kiến của mọi đối tượng sẽ và đưa ra quyết định chính xác trong quá trình kiểm tra [14]. Kịp thời trong công tác kiểm tra là gì? Nó chính là thời gian cụ thể với từng việc cụ thể theo trong quá trình làm việc kiểm tra thuế. Ví dụ như: Với người nộp thuế có quy mô lớn hay nhỏ thì lượng thời gian cần ít hay nhiều? Với vụ việc phức tạp thì lượng thời gian cần nhiều hơn và ngược lại. Với số lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra thuế đông thì thời gian rút ngắn, với chất lượng đội ngũ kiểm tra có năng lực tốt thì thời gian cũng ngắn và ngược lại.
Khi xác định được như vậy thì sẽ tận dụng được hết hiệu quả của tính kịp thời trong côn tác kiểm tra, đồng thời cũng khắc phục được những mặt hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước. Thứ tư: Nguyên tắc bảo vệ bí mật Đây cũng là một trong những nguyên tắc quan trọng và cẩn trọng. Nếu có sai phạm hoặc làm lộ bí mật sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ, có thể dẫn đến tổn thất lợi ích của quốc gia cũng như của người nộp thuế. Nguyên tắc bảo vệ bí mật trong công tác kiểm tra được hiểu là trong quá trình kiểm tra, chủ thể kiểm tra có thể được xem nhiều tài liệu, bí quyết, kinh nghiệm quan trọng và bí mật không được tiết lộ ra ngoài, vì vậy chủ thể kiểm tra chỉ được báo cáo cho người có thẩm quyền biết [14].
Nguyên tắc này không phải phủ nhận nguyên tắc công khai, vì nguyên tắc công khai chỉ công khai những vấn đề trong phạm vi cho phép, còn trong phạm vi không cho phép thì đó là vấn đề bảo mật. Thứ năm: Nguyên tắc hiệu quả Nguyên tắc hiệu quả là nguyên tắc sau cùng và cũng là nguyên tắc mong đợi nhất. Việc thực hiện tất cả các nguyên tắc trên cũng chỉ vì kết quả của nguyên tắc này và cũng là mục đích cuối cùng của việc kiểm tra thuế [14]. Muốn thực hiện được nguyên tắc này thành công, có hiệu quả thì cơ 9 quan Thuế phải thực hiện đúng chủ trương, đúng chức năng và phải phổ biến, giúp người nộp thuế cập nhật được kịp thời các chính sách, pháp luật về thuế.
Khi đó việc kiểm tra thuế cũng nhanh hơn, đơn giản hơn, tiết kiệm thời gian, chi phí. Đối tượng kiểm tra thuế cũng giảm thiểu được sai sót, vi phạm, tránh tổn thất không mong muốn, nâng cao năng suất, hiệu quả công việc, thúc đẩy người nộp thuế phát triển và tăng lợi ích quốc gia. Mục tiêu kiểm tra thuế Kiểm tra thuế ra đời để giảm mức độ vi phạm pháp luật về thuế, xử lý nghiêm các sai phạm, tránh các đối tượng nộp thuế lợi dụng khe hở của điều luật mà trốn thuế, trục lợi gây tổn thất cho nền kinh tế. Có những văn bản, quy phạm pháp luật được ban hành nhưng cũng không kiểm soát được hết tình trạng thực tế xảy ra nên các đối tượng nộp thuế lợi dụng tình trạng đó mà thực hiện hành vi vi phạm pháp luật [20].
Một phần cũng nhờ có công tác kiểm tra thuế nên những mặt tiêu cực được đẩy lùi, các đối tượng nộp thuế chấp hành pháp luật hơn, tự giác nghiêm túc trong công tác kiểm tra hơn [14], [15]. Luật thuế ban hành được dựa từ các ý kiến, kiến nghị của các kết quả điều tra, kiểm tra thuế các cấp, từ đó đưa ra các hướng giải quyết, đường lối chủ trương phù hợp với tình trạng thực tế và xác định được rõ mức phạt nặng nhẹ, mức thu thuế hợp lý hơn, đảm bảo công bằng hơn.