CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY THEO HẠN MỨC TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp a. Khái niệm Theo khoản 1, điều 4 của Luật Doanh Nghiệp năm 2005 số 60/2005/QH11 ban hành ngày 12/12/2005 thì “Doanh Nghiệp là các tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh”.
Đặc điểm Theo quy định của Luật Doanh Nghiệp năm 2005 thì Doanh Nghiệp có những đặc điểm sau: - Là các tổ chức kinh tế hoạt động theo một mô hình, có bộ máy quản lý, hoạt động theo điều lệ công ty. - Có giấy phép chứng nhận đăng ký kinh doanh và thực hiện chức năng kinh doanh như đã đăng ký. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là sự kết hợp giữa các yếu tố đầu vào để tạo ra các sản phẩm dịch vụ tiêu thụ trên thị trường. - Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường.
Khái niệm, đặc điểm cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại a. Khái niệm Theo khoản 16, điều 04 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 số 47/2010/QH12 ban hành ngày 16/06/2010 thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả gốc và lãi”. Đặc điểm cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại - Quy mô khoản vay thường lớn: Các khách hàng doanh nghiệp thường có nhu cầu vay vốn với quy mô lớn hơn các đối tượng khách hàng khác để phục vụ sản xuất kinh doanh, phát triển thị phần. - Số lượng khách hàng không nhiều: trong tổng số khách hàng vay vốn tại ngân hàng thương mại, số lượng khách hàng doanh nghiệp chiếm tỷ trọng không nhiều so với các đối tượng khách hàng khác, đặc biệt là cá nhân, hộ gia đình.
- Xác suất rủi ro trong cho vay khách hàng doanh nghiệp thường ít hơn các đối tượng khách hàng khác nhưng hậu quả rủi ro đem lại thường rất cao vì quy mô khoản vay lớn. - Thời gian thẩm định thường lâu hơn, đồng thời việc kiểm tra kiểm soát nội bộ cũng diễn ra thường xuyên hơn. Do hậu quả rủi ro trong cho vay khách hàng doanh nghiệp đem lại thường rất cao nên đòi hỏi phải có thời gian thẩm định kỹ lưỡng hơn, công tác kiểm tra kiểm soát cũng diễn ra thường xuyên nhằm phát hiện và cảnh báo trước rủi ro có thể xảy ra trong tương lai. - Công tác xử lý tài sản bảo đảm của khách hàng là doanh nghiệp thường phức tạp hơn so với các đối tượng khách hàng khác do những quy 8 định pháp lý liên quan đến tính chất đa sở hữu đối với tài sản bảo đảm của các thành viên; do doanh nghiệp chia, tách, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hóa…gây khó khăn trong việc phân chia giá trị tài sản bảo đảm theo tỷ lệ tương ứng với nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp.
Các phương thức cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp Các phương thức cho vay của ngân hàng là khá đa dạng. Nếu phân loại phương thức cho vay một cách khoa học, sẽ là tiền đề để giúp ngân hàng thiết kế quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng. Một số phương thức cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp như: + Cho vay từng lần: là hình thức cho vay đối với các khách hàng có nhu cầu vay vốn từng lần, không có nhu cầu vay thường xuyên do đặc điểm kinh doanh của khách hàng. Trong mỗi hợp đồng tín dụng tùy theo từng món vay mà ngân hàng sẽ xác định kỳ hạn nợ, vốn của ngân hàng chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ kinh doanh và đảm bảo doanh số cho vay không vượt quá số tiền cho vay đã thỏa thuận trong HĐTD; + Cho vay theo hạn mức tín dụng: là nghiệp vụ tín dụng với khách hàng vay ngắn hạn có nhu cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định, theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp vốn cho khách hàng vay trong hạn mức tín dụng đã thỏa thuận.
Trong thời hạn duy trì hạn mức cho vay, khách hàng được rút vốn phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế; + Cho vay theo hạn mức thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi, áp dụng đối với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều, thời gian cấp thấu chi ngắn (thường là một năm); + Cho vay chiết khấu: là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được thực 9 hiện dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ cho ngân hàng để nhận một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi mức chiết khấu; + Cho vay bao thanh toán: là nghiệp vụ tín dụng mà các tổ chức tín dụng áp dụng cho doanh nghiệp là bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua mua bán hàng hóa; + Cho vay hợp vốn: là phương thức cho vay mà một nhóm ngân hàng cùng tham gia vốn cho vay toàn bộ hoặc một phần đối với một dự án hoặc phương án vay vốn của khách hàng; + Cho vay trả góp: là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Áp dụng cho những khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho các tài sản cố định hoặc hàng hóa lâu bền; + Cho vay theo dự án đầu tư: Phương thức này được áp dụng đối với khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đấu tư phục vụ đời sống. Ngân hàng cùng khách hàng cùng ký HĐTD và thoả thuận mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ trả nợ.
Ngân hàng thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án. Trong phương thức này, ngân hàng có nhiệm vụ theo dõi, giám sát khách hàng vay vốn có doanh số cho vay không vượt quá số tiền cho vay thỏa thuận tại HĐTD, chỉ giải ngân bù đắp nguồn vốn huy động tạm thời mà khách hàng đã sử dụng để thanh toán các chi phí của dự án trên cơ sở các chứng từ hợp pháp, hợp lệ, mỗi một lần rút vốn vay khách hàng phải lập giấy nhận nợ tiền vay, trong phạm vi mức vốn đầu tư đã thoả thuận kèm theo các chứng từ vay phù hợp…. CHO VAY THEO HẠN MỨC TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng (mức dư nợ tối đa) duy trì trong một khoảng thời gian nhất định (thường theo một chu kỳ kinh doanh hoặc một năm tài chính) nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt của khách hàng.
Đặc điểm cho vay theo hạn mức tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp - Cho vay theo hạn mức tín dụng áp dụng đối với khách hàng doanh nghiệp vay ngắn hạn có nhu cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định. Thời hạn hợp đồng tín dụng không quá 12 tháng. - Cho vay theo hạn mức tín dụng áp dụng cho toàn bộ hoặc một phần nhu cầu vốn lưu động thiếu. - Thời hạn cho vay của từng lần giải ngân theo từng giấy nhận nợ phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng, nguồn vốn của ngân hàng cho vay nhưng không quá 12 tháng.
- Ngân hàng chỉ cần phân tích, thẩm định khách hàng một lần vào đầu kỳ để quyết định hạn mức tín dụng. - Lãi suất cho vay theo phương thức hạn mức tín dụng thường cao hơn phương thức từng lần. Các ngân hàng có thể áp dụng mức lãi suất tương tự nhau nhưng riêng lãi suất cho vay theo hạn mức tín dụng thường cao hơn do chi phí quản lý cao hơn, chi phí quản lý vốn mà ngân hàng phải duy trì và chuẩn bị trước để khi có nhu cầu thanh toán khách hàng có thể làm thủ tục vay vốn. - Khả năng rủi ro cao hơn các loại hình cho vay khác, do ngân hàng 11 khó giám sát được chặt chẽ khoản vay.
Khi mà việc giải ngân chỉ phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn và kế hoạch bán hàng, và việc đánh giá hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh thường vào thời điểm hết thời hạn hợp đồng hạn mức tín dụng. Công tác cho vay theo hạn mức tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp Hiện nay, công tác cho vay theo hạn mức tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại là khác nhau tùy thuộc vào từng chính sách riêng mà các ngân hàng áp dụng, tuy nhiên luôn đảm bảo bao gồm các vấn đề cơ bản sau: Hoạch định chính sách cho vay theo hạn mức tín dụng, tổ chức bộ máy phân công, phân nhiệm, triển khai thực thi các giải pháp và kiểm soát rủi ro trong quá trình cho vay theo hạn mức tín dụng đối với doanh nghiệp. Hoạch định chính sách cho vay theo hạn mức tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp Chính sách cho vay là hệ thống các chủ trương, định hướng quy định chi phối hoạt động tín dụng nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn của các Ngân hàng thương mại để tài trợ cho các doanh nghiệp trong phạm vi cho phép của Ngân hàng nhà nước. · Đối tượng cho vay: Doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn thường xuyên để bổ sung vốn lưu động tạm thời mà chi phí cấu thành trong sản phẩm như hàng hóa, vật tư, dịch vụ, tiền lương, điện.