ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những nƣớc có nghề nuôi tôm lâu đời và sản lƣợng tạo ra từ nghề này đã và đang mang lại lợi nhuận kinh tế cao. Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản, đến năm 2011 sản lƣợng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam đạt 3 triệu tấn và xuất khẩu thủy sản đã đạt mức 6,118 tỷ USD, trong đó tôm sú xuất khẩu 1,43 tỷ USD, chiếm 59,7%; năm 2012, tổng diện tích nuôi tôm nƣớc lợ của Việt Nam là 657.523 ha, sản lƣợng 476.424 tấn; tăng 0,2% về diện tích nhƣng giảm 3,9% sản lƣợng so với năm 2011.[19] Bên cạnh những thành quả đạt đƣợc, nghề nuôi tôm Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn. Đầu tƣ ban đầu cho nghề nuôi tôm là rất lớn, nhƣng ngƣời dân cũng gặp phải không ít rủi ro do bệnh dịch làm chết tôm hàng loạt, chất lƣợng và số lƣợng sản phẩm đạt đƣợc thấp, gây tổn thất lớn cho ngƣời dân. Nguyên nhân của tình trạng trên là: Một là, do ngƣời nuôi chạy theo lợi nhuận đã lạm dụng nhiều loại thuốc, hóa chất… làm ảnh hƣởng tiêu cực đến khả năng kháng dịch bệnh và khả năng hấp thu của tôm, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến năng suất thu hoạch.
Hai là, việc gia tăng diện tích nuôi do sự phát triển không đồng bộ và tự phát, các ao nuôi tôm truyền thống đã dần chuyển đổi thành ao nuôi công nghiệp. Mặt khác, hệ thống cấp và thoát nƣớc cho các vùng nuôi tôm vẫn chƣa đƣợc quy hoạch rõ ràng, không phân biệt đƣợc kênh nƣớc sạch, kênh thải. Chính vì vậy, lƣợng chất thải từ các ao nuôi đƣợc thải ra ngoài môi trƣờng sau mỗi vụ nuôi ngày càng tăng, làm cho môi trƣờng nƣớc ngày càng ô nhiễm nặng, dịch bệnh xảy ra và lây lan khó kiểm soát. Theo Tổng cục Thủy sản nhận định, dịch bệnh xảy ra trầm trọng trên diện rộng là nguyên nhân chính khiến hiệu quả sản xuất năm 2012 bị ảnh hƣởng nghiêm trọng.
Năm 2012, Việt Nam có khoảng 100.776ha diện tích tôm nƣớc lợ bị thiệt hại do dịch bệnh (trong đó tôm sú là 91. Đến cuối năm 2013, diện tích nuôi tôm là 655.255 ha, trong đó diện tích nuôi tôm sú là 589.605 ha, tôm chân trắng là 65. Sản lƣợng thu hoạch tôm là 516.378 tấn, trong đó sản lƣợng tôm sú là 239.239 tấn, tôm chân trắng 277.[19] 1 z Trong mối quan hệ tƣơng hỗ giữa môi trƣờng, mầm bệnh và tôm, yếu tố môi trƣờng giữ vai trò hết sức quan trọng, gây tác động lên mối quan hệ giữa tôm và mầm bệnh. Do vậy, việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, tạo điều kiện phát triển bền vững cho các vùng nuôi tôm là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách.
Với tính cấp bách của vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, đề tài đã tiến hành nhiều đợt khảo sát để nhằm “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp cải thiện chất lượng môi trường nước vùng nuôi tôm huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định” 2 z CHƢƠNG 1. Tổng quan tình hình nuôi tôm trên thế giới 1. Tình hình nuôi tôm trên thế giới Nghề nuôi tôm trên thế giới đã xuất hiện cách đây nhiều thế kỷ, nhƣng nuôi tôm công nghiệp mới chỉ bắt đầu vào những năm 1930 sau khi Motosaku Fujinaga công bố công trình nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo loài tôm he Nhật Bản (Penaeus japonicus) (Shigueno K. Cùng với sự phát triển của khoa học, qui trình sản xuất tôm bột đƣợc hoàn chỉnh vào năm 1964.
Sự chủ động đƣợc con giống đảm bảo chất lƣợng giúp cho nghề nuôi tôm phát triển nhanh chóng và bùng nổ vào thập niên 90 (Rosemberry, 1998)[10]. Trên thế giới có hai khu vực nuôi tôm lớn nhất là Tây bán cầu (gồm các nƣớc Châu Mỹ Latinh) và Đông bán cầu (gồm các nƣớc Nam Á và Đông Nam Á).Theo Nguyễn Văn Hảo [10] thì năm 1997 ở khu vực Tây bán cầu, Ecuador đạt đƣợc 130.000 tấn chiếm 66% tổng sản lƣợng tôm nuôi của khu vực. Khu vực Đông bán cầu sản lƣợng tôm nuôi đạt 462.000 tấn chiếm 70% tôm nuôi trên thế giới. Trong đó, Thái Lan là nƣớc đứng đầu, kế đến là Indonesia, Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam.
Hiện nay, việc nuôi tôm đã tăng gâp chín lần so với những năm 1990 của thế kỷ trƣớc, có khoảng 5 triệu tấn tôm đƣợc sản xuất hàng năm. Trung Quốc chiếm phần lớn nhất sản lƣợng ngành nuôi tôm, sau đó là Thái Lan, In-đô-nê-xia, Ấn Độ, Việt Nam, Bra-xin, E-cua-đo và Băng-la-đ t. Đa số tôm nuôi đƣợc nhập khẩu vào Hoa Kỳ, Liên Minh Châu Âu và Nhật Bản. Sự tăng trƣởng ngành này đã tạo ra thu nhập đáng kể cho các nƣớc phát triển và đang phát triển - đặc biệt là châu Á, châu Mỹ và châu Phi - nhƣng cũng đã gây ra những mối lo ngại về sự ảnh hƣởng của ngành đến môi trƣờng và xã hội.
Các loài tôm đƣợc nuôi nhiều nhất là tôm chân trắng (Pennaeus vannamai), tôm sú (Pennaeus monodon). Nói tóm lại, lịch sử nghề nuôi tôm bộc lộ nhiều hạn chế lớn, nhƣng cũng có nhiều tiến bộ công nghệ nhanh chóng và cũng phải đối mặt với sự kiểm soát chặt chẽ trên toàn cầu bởi các nhà môi trƣờng và các nhà quản lý. Tuy nhiên, nó đã liên tiếp vƣợt qua những thách thức lớn.2 Tình hình ô nhiễm môi trường nước do nuôi tôm trên thế giới: Nghề nuôi tôm ở các nƣớc châu Á tuy phát triển rất mạnh, đạt đƣợc kết quả bƣớc đầu, nhƣng đã phải sớm đối đầu với những vấn đề dịch bệnh và sự suy thoái của môi trƣờng nuôi. Thƣờng các vùng nuôi tôm chỉ cho lợi nhuận cao trong vòng 2 đến 4 năm đầu, sau đó do bệnh dịch bùng phát, môi trƣờng suy thoái, tôm dễ bị bệnh, bệnh dịch tràn lan gây nhiều thiệt hại to lớn cho ngƣời nuôi và làm giảm diện tích, sản lƣợng tôm nuôi.
Nguyên nhân chính của tình trạng này đƣợc xác định do phát triển nuôi ồ ạt, các khu vực nuôi chỉ tập trung vào phát triển diện tích nuôi và tăng sản lƣợng trong các ao nuôi mà bỏ qua việc xử lý chất thải phát sinh trong quá trình nuôi. Sau một thời gian nuôi có hiệu quả, môi trƣờng trong khu vực nuôi dần bị suy thoái dẫn đến tôm nuôi dễ bị mắc bệnh Trƣớc tình hình đó, các nƣớc đã thực hiện đầu tƣ nghiên cứu tìm các giải pháp để vực lại nghề nuôi, trong đó tập trung vào vấn đề quản lý và bảo vệ môi trƣờng trong các khu nuôi đƣợc chú ý. Trung Quốc phải mất 10 năm để tổ chức lại nghề nuôi, dựa trên điều kiện thực tế của từng tiểu vùng để đƣa ra mô hình và quy trình nuôi thích hợp và Trung Quốc đã trở thành nƣớc có sản lƣợng tôm nuôi tôm lớn nhất trên thế giới. Theo thống kê chính thức, kể từ năm 2000, Trung Quốc đã sản xuất trên 200nghìn tấn tôm một năm, trở thành một trong những nƣớc sản xuất tôm nhiều nhất trên thế giới.
Vùng nuôi nhiều nhất chính là các tỉnh Quảng Tây và Quảng Ðông do có khí hậu ấm và nguồn cung cấp nƣớc dồi dào. Tiềm năng kinh tế do thủy sản đem lại là rất cao. Song, bên cạnh đó việc nuôi trồng thủy sản cũng đã có mặt tiêu cực, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến môi trƣờng. Ô nhiễm nƣớc ở các vùng nuôi thủy sản có quan hệ trực tiếp với vấn đề sử dụng thức ăn nuôi tôm cá.
Các nghiên cứu của Boyd (1985), Gross và cộng sự (1998) cho thấy với hệ số thức ăn nuôi tôm FRC là 1,5 thì 1 tấn tôm thải ra 0,5 tấn chất hữu cơ, 56kg nitrogen (N) và 21kg photpho (P). Nhƣ vậy, để đạt đƣợc sản lƣợng đang tiêu thụ hiện nay trên thế giới là 5 triệu tấn tôm, thì lƣợng chất hữu cơ thải ra môi trƣờng là 4375 tấn, 280 tấn N, 108 tấn P, một con số khổng lồ khi thải ra môi trƣờng nếu không đƣợc xử lý.[15] 4 z Theo nghiên cứu của Simon và Matheve (1994), nito và phosphor là những thành phần chủ yếu trong chất thải hữu cơ của trại nuôi tôm. Một hecta ao nuôi tôm thâm canh ở Thái Lan thải ra mỗi ngày khoảng 46kg chất hữu cơ. Sự hao hụt N từ ao nuôi tôm là rất biến động và phụ thuộc vào tỉ lệ trao đổi nƣớc.
Theo ƣớc tính, lƣợng N bị mất đi của ao tôm từ khoảng 17-58gN/kg tôm đến 102gN/kg tôm[18] Thành phần lớp bùn trong các đầm, ao NTTS chủ yếu là các chất hữu cơ nhƣ Protein, lipids, axit béo với công thức chung CH3(CH2)nCOOH, photpholipids, Sterol-vitamin D3, các hoocmon, carbonhydrate, chất khoáng và vitamin, vỏ tôm sau lột xác,. Lớp bùn này luôn luôn trong tình trạng ngập nƣớc, yếm khí, các vi sinh vật yếm khí phát triển mạnh, phân hủy các hợp chất trên tạo thành các sản phẩm là hydrosunphua (H2S), amonia (NH3), khí mê tan (CH4),. rất có hại cho thủy sinh vật. Ví dụ, ở nồng độ 1,3 ppm, H2S có thể gây sốc, tê liệt và thậm chí gây chết tôm.
Theo Naylor và cộng sự (2000), ở Thái Lan, ƣớc tính mỗi kg tôm sản xuất ra, ngƣ trƣờng giảm mất 434 kg cá chỉ, do sự chuyển đổi nơi cƣ trú. Còn ở vùng Chokonia, Bangladesh, ngƣ dân cho biết, sản lƣợng đánh bắt giảm 80% từ khi RNM bị phá và đắp đê để khoanh vùng nuôi tôm. Nhiều tổ chức quốc tế nhƣ Tổ chức Nông nghiệp và Lƣơng thực Liên hợp quốc (FAO), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Qũy Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF). phải thƣờng xuyên khuyến cáo về sự suy thoái tài nguyên, môi trƣờng do phá rừng ngập mặn để làm đầm tôm.[14] Ở Ấn Độ và Indonesia, năng suất tôm nuôi giảm sau 5 - 10 năm.
Ở Thái Lan hơn 20% trại tôm từ RNM đã bị bỏ chỉ sau 2 - 4 năm. Trong số 1,3 triệu ha đất dành cho nuôi tôm ở Thái Lan, khoảng 250.000 ha đã phải bỏ hoang.[15] Báo cáo của Quỹ Công lý môi trƣờng (EJF) tại London nhận x t, ngƣời phƣơng Tây càng ƣa thích tôm hùm thì tình trạng môi trƣờng các nƣớc nghèo nhất càng tồi tệ đi. Các trang trại nuôi tôm đang phá v nhiều khu rừng ngập mặn, làm giảm các đàn cá trong tự nhiên, gây ô nhiễm và tăng nguy cơ dịch bệnh đối với các cộng đồng ven biển. 5 z Steve Trent, Giám đốc EJF cho biết: "Báo cáo của chúng tôi đã chỉ ra một loạt các tác động có hại cho môi trƣờng, phát sinh từ tƣ tƣởng muốn làm giàu nhanh chóng của nông dân nuôi tôm".