Chương 1: VĨNH PHÚC TRƢỚC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT VÀ CHỦ TRƢƠNG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT 1. Vĩnh Phúc trƣớc cải cách ruộng đất 1. Tình hình sở hữu ruộng đất trước năm 1945 Điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội tỉnh Vĩnh Phúc Vĩnh Phúc nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, là miền chuyển tiếp, cầu nối giữa các tỉnh miền núi Việt Bắc với Thủ đô Hà Nội; nằm ở vị trí 21035’ đến 21006’ vĩ Bắc và 106019’ đến 106048’ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang với đường ranh giới là dãy núi Tam Đảo; phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ; phía Nam giáp thành phố Hà Nội; phía Đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh (Hà Nội).
Với vị trí là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước, ngay từ rất sớm, nhân dân Vĩnh Phúc đã sớm tiếp thu những ảnh hưởng tích cực của phong trào yêu nước, kháng chiến chống xâm lược, giải phóng quê hương. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ khi vua Hùng dựng nước cho đến nay, địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã trải qua biết bao thay đổi về địa giới hành chính: Thời Hùng Vương, địa bàn Vĩnh Phúc nằm trong bộ Văn Lang, trung tâm của nước Văn Lang. Thời Thục An Dương Vương lập ra nước Âu Lạc, Vĩnh Phúc thuộc huyện Mê Linh. Dưới thời Bắc Thuộc, Vĩnh Phúc nằm trong địa bàn quận Mê Linh, Tân Xương, Phong Châu.
Đến thời phong kiến độc lập, đơn vị hành chính là các đạo (lộ, trấn, xứ, tỉnh), dưới là các phủ, châu, huyện, thay thế cho chế độ quận, huyện thời trước, vùng đất Vĩnh Phúc thuộc lộ Đông Đô, Bắc Giang và trấn Tuyên Quang. Đầu triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, địa bàn Vĩnh Phúc nằm trong trấn Kinh Bắc, Sơn Tây và Thái Nguyên. Năm Minh 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mạng thứ 12 (1831), cuộc cải cách hành chính được tiến hành đã đổi tất cả trấn trong cả nước thành tỉnh. Lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở nước ta.
Địa bàn Vĩnh Phúc thuộc 3 tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh và Thái Nguyên. Năm 1832, phân phủ Vĩnh Tường được thành lập kiêm lý hai huyện Yên Lạc và Yên Lãng. Ngày 20 tháng 10 năm 1890, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập đạo Vĩnh Yên, gồm: huyện Bình Xuyên tách từ phủ Phú Bình (Thái Nguyên) và toàn bộ phủ Vĩnh Tường. Ngày 06 tháng 10 năm 1901, toàn quyền Đông Dương quyết định thành lập tỉnh Phù Lỗ.
Đến năm 1904, tỉnh lỵ Phù Lỗ dời lên làng Tháp Miếu, phủ Yên Lãng và từ đó đổi tên tỉnh là Phúc Yên. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, thực hiện chủ trương của Chính phủ, các tỉnh đều bỏ cấp tổng, các làng xã nhỏ hợp nhất thành xã lớn và bỏ tên phủ, gọi chung là huyện. Tháng 2 năm 1950, hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên hợp nhất thành một tỉnh, lấy tên gọi là tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1950, khi hợp nhất tỉnh, Vĩnh Phúc có diện tích 1.715 km2 với dân số gần 47 vạn người, bao gồm 14 dân tộc anh em cùng sinh sống, đông nhất là người Kinh, chiếm 98,38% dân số.
Đồng bào các dân tộc thiểu số sống rải rác ở 17 xã dọc dãy núi Tam Đảo và Sáng Sơn của 5 huyện: Tam Dương, Bình Xuyên, Lập Thạch, Kim Anh và Đa Phúc. Đại bộ phận nhân dân theo đạo Phật, có gần 2 vạn người theo đạo Thiên Chúa sống rải ở 72 xã, 2 thị xã, trong đó có 26 thôn Công giáo toàn tòng [4, tr. Ngày 29 tháng 1 năm 1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết 504, quyết định hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú, lấy Việt Trì làm tỉnh lỵ của tỉnh. Đến ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Nghị quyết “Về việc chia và chuyển địa giới hành chính một số tỉnh”, trong đó có việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, tỉnh Vĩnh Phúc chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Là miền chuyển tiếp, cầu nối giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, địa hình Vĩnh Phúc hình thành ba vùng tương đối rõ rệt: rừng núi, đồi gò và đồng bằng. Vùng rừng núi nằm ở phía Bắc tỉnh, tiếp giáp với núi rừng của hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang. Vùng đồng bằng nằm ở phía nam tỉnh bao gồm các huyện Mê Linh, Vĩnh Tường, Yên Lạc. Giữa vùng rừng núi và vùng đồng bằng là vùng đồi gò xen kẽ nhau từ đông sang tây.
Trong đó, hai dãy núi quan trọng là: dãy Tam Đảo (ngọn cao nhất 1.591 m) và dãy Sáng Sơn cao 633 m. Vĩnh Phúc có nhiều sông lớn chảy qua: sông Lô ở phía Tây dài 37 km. Sông Hồng chảy từ phía Tây xuống phía Nam dài 40 km. Ngoài ra, một hệ thống các con sông nhỏ chảy từ chân núi Tam Đảo xuống vùng đồng bằng và các đầm hồ lớn nằm ở phía Nam như: đầm Vạc, đầm Rượu, đầm Đông Mật, đầm Rưng… Do liền kề với thủ đô Hà Nội nên tỉnh Vĩnh Phúc là đầu mối của các tuyến đường quan trọng như: quốc lộ số 2 Hà Nội - Hà Giang (dài hơn 50 km), 2B Vĩnh Yên đi khu nghỉ mát Tam Đảo hay các đường nội tỉnh như đường 12, 13, 23, 40, 129… với tổng chiều dài hơn 200 km cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân trong tỉnh.
Cư dân Vĩnh Phúc có đời sống văn hóa tinh thần khá phong phú, nhiều tôn giáo cùng tồn tại và phát triển như: Phật giáo, Nho giáo, Công giáo. Ngoài ra, các tín ngưỡng cổ truyền như thờ thành hoàng làng, thờ cúng tổ tiên cũng được duy trì. Hình tượng ngôi “Đình làng” không chỉ là nơi thờ thành hoàng làng, là nơi tế tự và hội họp, mà còn là nơi mở hội làng, nơi thể hiện tình đoàn kết xóm làng rất mạnh mẽ. Trước cách mạng tháng Tám, nhân dân sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp.
Từ sau ngày hòa bình lập lại, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, cơ cấu nền kinh tế Vĩnh Phúc có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dân cư Vĩnh Phúc phân bố không đều: dân số thưa thớt, chỉ tập trung ở một số vùng có điều kiện thuận lợi. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do điều kiện sinh sống khó khăn, ăn ở không hợp vệ sinh, dịch bệnh, mặt khác do Vĩnh Phúc là nơi có nhiều căn cứ của nhiều cuộc khởi nghĩa, thực dân Pháp đàn áp dã man, làm cho nhân dân phải lưu tán đi khắp nơi. Hiện nay, mật độ dân số Vĩnh Phúc khá cao so với mật độ dân số trung bình cả nước; dân số trong độ tuổi lao động chiếm hơn 60%, đây là nguồn nhân lực dồi dào cho phát triển kinh tế - xã hội.
Sau khi đánh chiếm xong nước ta, song song với việc xây dựng bộ máy hành chính, thực dân Pháp tăng cường lực lượng quân sự đàn áp. Đồn bốt của Pháp được dựng lên ở nhiều nơi như: Liễn Sơn, Tam Đảo, Bạch Hạc… Tại các vùng chiếm đóng, chúng tăng cường vơ vét tài nguyên, trắng trợn cướp đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồn điền và thi hành chính sách thuế khóa nặng nề nhằm bóc lột tới xương tủy người nông dân. Trải qua một thời gian dài xây dựng, củng cố và đấu tranh, từ ngày 17 đến ngày 24 tháng 8 năm 1945, hàng chục vạn đồng bào các dân tộc Vĩnh Yên, Phúc Yên theo lời hiệu triệu của Trung ương Đảng và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhất tề vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Chính quyền từ tỉnh đến làng xã - vấn đề cơ bản của cách mạng, đã về tay nhân dân lao động.
Xiềng xích phong kiến hàng nghìn năm và ách thống trị thực dân đè nặng hơn 60 năm trên quê hương Vĩnh Phúc đã bị dập tan; hơn 50 vạn đồng bào các dân tộc trong hai tỉnh được đổi đời, từ thân phận nô lệ trở thành người “làm chủ”. Từ năm 1950, trên địa bàn Vĩnh Yên - Phúc Yên, địch đã chiếm đóng hầu hết các vị trí trong tỉnh với một hệ thống đồn bốt kiên cố và các ban tề khá ổn định. Ngày 11 tháng 4 năm 1950, Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị cán bộ tại thôn Thản Sơn, xã Liễn Sơn, huyện Lập Thạch. Hội nghị đã tổng kết toàn diện cuộc đấu tranh về kinh tế, chính trị, quân sự với địch trong thời gian vừa 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua và đề ra nhiệm vụ đấu tranh trong tình hình mới.
Đồng thời, Tỉnh ủy đã thống nhất chủ trương đưa cán bộ, đảng viên, bộ đội và dân quân du kích từ vùng tự do trở về vùng địch hậu, tiếp tục bám đất, bám dân để phục hồi và xây dựng cơ sở lãnh đạo nhân dân chống lại âm mưu thủ đoạn của địch. Hội nghị tỉnh ủy tháng 10 năm 1951 đã quyết định xây dựng “căn cứ du kích” ở các huyện như Bình Xuyên, Yên Lạc, Yên Lãng, Đông Anh, Kim Anh, bởi đây là những nơi có cơ sở mạnh, nhân dân một lòng tin theo kháng chiến, địa hình thuận lợi, lực lượng của địch tương đối yếu, dễ bị tan rã trước những đòn tấn công của ta. Việc xây dựng căn cứ du kích là một chiến lược trong đường lối quân sự của Đảng. Bởi vì đây không chỉ là nơi có cơ sở vững chắc, lực lượng vũ trang mạnh, có khả năng đánh trả những trận càn quét của địch, mà còn có khả năng phối hợp với bộ đội địa phương đánh và tiêu diệt địch.
Từ năm 1950 trở đi, các lực lượng vũ trang phát triển mạnh và tăng cường hoạt động, tấn công tiêu diệt các đồn bốt của địch, mở rộng vùng giải phóng trong toàn tỉnh. Bước sang năm 1953, trên chiến trường sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ, phong trào chiến tranh du kích ngày càng phát triển, ta luôn giành được ưu thế về binh lực và quyền chủ động tiến công. Sau gần 100 ngày chiến đấu liên tục, quân dân Vĩnh Phúc đã vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, đánh thắng địch trên cả 3 mặt: quân sự, chính trị và kinh tế. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến thắng lịch sử điểm Điện Biên Phủ đã làm nức lòng quân dân cả nước và bạn bè khắp năm châu, đồng thời làm dao động tinh thần binh lính địch.