Chương 1: VÀI NÉT VỀ TỈNH BẮC NINH TRƯỚC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT VÀ CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG 1. Tỉnh Bắc Ninh trước cải cách ruộng đất 1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội Bắc Ninh là tỉnh có diện tích trung bình với 96.696 ha (năm 1949), nằm ở phía Bắc đồng bằng Bắc Bộ. Tỉnh có phía Bắc giáp Bắc Giang, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Nội và Hà Đông, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và phía Đông giáp tỉnh Hải Dương.
Trước kháng chiến chống thực dân Pháp, tỉnh được chia làm 2 phủ và 8 huyện. Phía Bắc sông Đuống có phủ Từ Sơn, huyện Võ Giàng, Tiên Du, Quế Dương và Yên Phong thường gọi là Bắc Phần. Phía Nam sông Đuống có phủ Thuận Thành, huyện Gia Lâm, Văn Giang, Gia Bình, Lương Tài thường được gọi là Nam Phần. Tỉnh lỵ Bắc Ninh thuộc địa hạt huyện Võ Giàng, sau thiết lập thành thị xã và được coi như một phủ, huyện.
Sau khi kháng chiến bùng nổ, huyện Văn Giang được tách sang tỉnh Hưng Yên, huyện Văn Lâm thuộc về tỉnh Bắc Ninh. Đến năm 1947, huyện Văn Lâm lại được tách khỏi Bắc Ninh trở về tỉnh Hưng Yên. Cuối năm 1948, huyện Gia Lâm sáp nhập vào Hưng Yên, thị xã Ngọc Thụy sáp nhập vào Gia Lâm. Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Gia Lâm lại trở về với tỉnh Bắc Ninh.
Tháng 8 năm 1950, huyện Gia Bình và Lương Tài được sáp nhập thành huyện Gia Lương. Sau Cách mạng tháng Tám, tỉnh có 508 xã (trừ Văn Giang và Gia Lâm). Đến năm 1949, tỉnh có 124 liên xã: Huyện Yên Phong (18 xã), Thuận Thành (22 xã), Quế Dương (12 xã), Tiên Du (16 xã), Lang Tài (11 xã), Võ Giàng (15 xã), Từ Sơn (18 xã), Gia Bình (12 xã). 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bắc Ninh có 3 con sông lớn: Sông Hồng ở phía Tây và Tây Nam của tỉnh, chảy theo chiều Tây Bắc - Đông Nam; sông Cầu ở Phía Bắc tỉnh; sông Đuống nối sông Hồng và sông Thái Bình chảy theo chiều Tây - Đông, chia tỉnh ra làm 2 phần: Bắc Phần và Nam Phần.
Ngoài ra còn một số sông, kênh đào nhỏ như: sông Ngũ Huyện Khê, sông Cà Lồ và con ngòi Tào Khê. Bắc Ninh thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, được hình thành trên trầm tích sa bồi, nên loại đất chủ yếu là phù sa. Đồng thời, do nằm trọn trong vùng đồng bằng sông Hồng nên tỉnh Bắc Ninh có địa hình tương đối bằng phẳng, chỉ có một số núi đất, sỏi, nhỏ và không cao lắm, nơi cao nhất là 68,4 m. Cả tỉnh có 30 núi, tập trung ở các huyện Bắc phần: Tiên Du, Võ Giàng, Quế Dương và rải rác ở Gia Bình, Yên Phong.
Về giao thông, do liền kề với thủ đô Hà Nội nên tỉnh Bắc Ninh là đầu mối của các tuyến đường bộ quan trọng như: các tuyến Quốc lộ: số 1 Hà Nội - Lạng Sơn (dài 41,5 km), số 2 Hà Nội - Thái Nguyên (dài 6,8 km), số 5 Hà Nội - Hải Phòng (dài 11,7 km), số 18 Bắc Ninh - Hòn Gai (26 km); các tuyến đường liên tỉnh như: số 16 Bắc Ninh - Phù Lỗ ( dài 18,3 km), số 20 Đáp Cầu - Cẩm Giàng (dài 36 km), số 30 Cẩm Giàng - Bắc Ninh - Thái Nguyên (dài 30 km). Ngoài ra, còn có các tỉnh lộ như 179, 181, 182, 196 và trên 200 km đường đê. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh có sông Hồng và sông Cầu thuận lợi cho thuyền bè đi lại. Tuy nhiên, trong kháng chiến chống Pháp, do sự kiểm soát của địch nên hoạt động giao thông đường thủy bị hạn chế.
Theo kết quả thống kê năm 1949, tỉnh Bắc Ninh có 337.659 người (không kể huyện Văn Giang và Gia Lâm), trong đó có 166. Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 357 người/km2 [112, tr7-11]. Ở Bắc Ninh, đời sống văn hóa tinh thần khá phong phú. Các tôn giáo như Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo để lại những dấu ấn đậm nét ở nơi đây.
Ngoài ra các tín ngưỡng cổ truyền như thờ thành hoàng, thờ cúng tổ tiên được 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com duy trì. Đình không chỉ là nơi thờ thành hoàng của làng, là nơi tế tự và hội họp; mà đình còn là nơi mở hội làng. Theo nhiều ngả khác nhau, Phật giáo đã vào Bắc Ninh từ đầu Công nguyên. Dòng Nam Phương và Quan Bích là cơ sở chủ yếu của đạo Phật ở Việt Nam.
Nho giáo và Hán học vào Bắc Ninh từ đầu Công nguyên, để từ đó lan tỏa đi khắp đất nước. Tuy nhiên đến thời nhà Lý, Nho giáo và Hán học mới được phát triển. Suốt chặng đường 826 năm (1075 - 1901), tham gia thi cử tại nơi cửa Khổng, nho sĩ Bắc Ninh đã giành nhiều vị trí hàng đầu cả về số lượng và học vị. Đạo Thiên chúa xuất hiện ở Bắc Ninh vào đầu thế kỷ XVIII.
Thôn Tử Nê thuộc xã Phá Lãng (Lương Tài) đón nhận sớm nhất, rồi từ đó truyền bá sang các thôn Lai Tê, Nghĩa La, Hương La. Sau đó các nhà truyền giáo tiếp tục dựng thêm cơ sở ở các xã Phượng Mao, Phong Cốc (Quế Dương), Xuân Hòa, Quả Cảm (Võ Giàng), Ngô Khê, Đông Tảo (Yên Phong), Dũng Vi (Tiên Du), Cẩm Giang (Từ Sơn), Ngăm Điền (Gia Lương). Tính đến năm 1954, toàn tỉnh có 32 xã có đồng bào giáo dân sinh sống với tổng số 14. Ở tỉnh Bắc Ninh, kinh tế nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng hàng đầu.
Năm 1949, diện tích toàn tỉnh là 108.355 ha (cả huyện Văn Giang), trong đó đất thổ cư là 7.809 ha, đầm trì là 3.092 ha, đồi trọc là 1.325 ha, đất hoang là 16.682 ha, bãi tha ma là 967 ha, đường đi là 1.890 ha, tổng cộng là 20.235 ha là đất nông nghiệp. Diện tích trồng lúa chiếm 32. Trung bình năng suất lúa chiêm đạt 550 kg, lúa mùa được 750 kg. Tổng sản lượng lúa 163,5 tấn thóc.
Diện tích trồng ngô, đỗ là 12.240 ha, sản lượng 20. Diện tích trồng khoai lang, khoai sọ, mía, lạc, thầu dầu, vừng là 4600 ha. Về thương mại: Hoạt động nội thương tập trung ở các chợ, một vài phố xá, thường chỉ bản nông sản, thịt, cá, gà, lợn, trâu, bò…vật dụng gia đình (như nồi, cày, bừa, rổ, rá…) hàng xén, hàng vải, lụa… Tiêu biểu: Chợ Bát 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tràng ở huyện Gia Lâm, bờ bắc sông Nhị, nhiều thuyền buôn tụ tập, mỗi ngày họp hai buổi sáng và chiều. Chợ Giầu, huyện Đông Ngàn, là chợ sầm uất vào loại nhất tỉnh.
Chợ Lim, huyện Tiên Du, bán nhiều tơ sống. Chợ Nội Trà, huyện Yên Phong, quán xá đông đúc, hàng hóa nhiều. Do thương mại phát triển nên đã xuất hiện các làng buôn như Phù Lưu, Đình Bảng (Từ Sơn), Xuân Cầu, Đa Ngưu (Văn Giang) có tới 70-80% số người trong làng làm nghề buôn bán. Từ khi kháng chiến, trọng tâm nội thương chuyển về các chợ, một số chợ đã được mở thêm, một số dân sống về nghề buôn bán nhỏ.
Từ khi địch tăng cường kiểm soát, Bắc Phần bị địch uy hiếp, hoạt động tại các chợ ở đây cũng diễn ra chốc lát. Còn Nam Phần thuộc vùng tạm chiếm của Pháp, hoạt động thương mại vẫn diễn ra bình thường. Các ngành nghề tiểu thủ công ở tỉnh Bắc Ninh tương đối phát triển. Hệ thống làng nghề xuất hiện sớm như gò đúc đồng (Đề Cầu, Đại Bái, Quảng Bố, Trang Liệt), đồ hàng sắt (Đa Hội, Đông Xuất, Ân Phú, Việt Yên, Thị Cầu, Nga Hoàng), đồ gốm (Bát Tràng, Phù Lãng), dệt vải lụa (Nội Duệ, Lũng Giang, Duệ Đông, Tiêu, Hồi Quan, Xuân Ổ, Tam Tảo, Tam Sơn, Yên Phụ, Phù Ninh, Thống Thiện, Thượng Mão, Lãng Ngâm, Bà Dương, Tuyên Bá, Lĩnh Mai, Ngọc Trì), nung gạch ngói (Xuân Ổ, Vĩnh Kiều, Tấn Bào, Tiêu Sơn, Lũng Giang), chạm đồ gỗ (Hương Mạc, Kim Thiều, Phù Khê), đồ sơn mài (Đình Bảng, Nội Trì, Lam Cầu, Phù Dực, Định Cương), cày bừa (Đông Xuất), giấy dó (Xuân Ổ, Phong Khê), tranh (Đông Hồ), thợ mộc, thợ xẻ (Thiết Úng, Kim Bảng, Phù Khê, Đồng Kỵ, Đại Vi, Đỗ Xá, Tư Thế, Chi Nê.), thợ ngõa, thợ nề (Vĩnh Kiều, Tiêu Sơn, Lễ Xuyên, Nội Duệ, Chi Nê, Ngăm Điền, Đặng Xá.
Tuy nhiên, hoàn cảnh kháng chiến đã khiến việc sản xuất gặp khó khăn và bị ngưng trệ, nhất là các nghề dùng nguyên liệu ngoài tỉnh như: nghề rèn, 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thủy tinh, đúc đồng, nung vôi. Tuy nhiên, có những nghề do nhu cầu kháng chiến hoặc sử dụng nguyên liệu của địa phương như nghề làm giấy, ép dầu, làm thuốc lá, ươm tơ vẫn tiếp tục phát triển. Hoàn cảnh kháng chiến Nhận rõ tầm quan trọng của Bắc Ninh - vùng đất phía bắc Hà Nội, lại án ngữ hai con đường chiến lược (quốc lộ 1A lên phía bắc, đường số 5 đi Hải Phòng), thực dân Pháp không từ bỏ âm mưu chiếm đóng Bắc Ninh làm căn cứ và bàn đạp để mở rộng chiến tranh lên Việt Bắc và mở thông con đường ra cửa biển Hải Phòng. Vừa tăng cường càn quét chiếm đóng, địch vừa ráo riết thúc ép dân chúng lập tề, bắt dân đi xây đồn bốt, tháp canh.
Cuối tháng 4 năm 1947, thực dân Pháp căn bản đã chiếm đóng và kiểm soát vùng Nam phần Bắc Ninh. Sông Đuống trở thành chiến tuyến tạm thời phân chia Bắc Ninh thành hai vùng: Vùng tự do gồm các huyện phía bắc là: Từ Sơn, Tiên Du, Quế Dương, Võ Giàng, Yên Phong, thị xã Bắc Ninh. Vùng địch tạm chiếm đóng gồm các huyện Nam phần: Gia Lâm, Thuận Thành, Gia Bình, Lang Tài, Văn Giang. Tại Nam phần Bắc Ninh, thực dân Pháp tăng cường lập tề và đẩy mạnh các hoạt động quân sự, cho máy bay oanh tạc nhiều làng mạc bên bờ sông Đuống; đồng thời mở rộng càn quét, khủng bố.
Đến tháng 10-1947, địch đã lập được 285 ban tề trong vùng chúng tạm thời chiếm đóng. Sau khi chiếm đóng Nam Phần, thực dân Pháp tiếp tục tấn công, đánh chiếm ra Bắc Phần. Cùng với nhân dân ở Nam phần chống thực dân Pháp càn quét, chiếm đóng, nhân dân các huyện ở Bắc phần đẩy mạnh các hoạt động quân sự, tổ chức chống càn. Tuy nhiên trước sự khủng bố dữ dội của địch, chính quyền ở nhiều xã bị tan vỡ, phải củng cố khôi phục nhiều lần.
Nhiều nơi bị mất đất, lực lượng kháng chiến, chính quyền cách mạng phải tản cư sang các làng khác, sang vùng tự do để đêm đến trở về gây dựng cơ sở, củng cố phong trào. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đến cuối năm 1949, toàn tỉnh Bắc Ninh bị địch chiếm đóng. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch trở nên gay go ác liệt và ở thế cài răng lược.