CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE LAY PHIẾU TÍN NHIỆM VA BO PHIẾU TÍN NHIEM TRONG CAC CO QUAN DAN CỬ 1.1 Khái niệm lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tin nhiệm “Tín nhiệm”, theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa là “tin tưởng mà giao phó, trông cậy vào nhiệm vụ, sự việc cụ thể nào đó” [18]. Tu này xuat phát từ chứ “tín” trong tiếng Hán thông dụng, có nghĩa là tin tưởng. Trong Tiếng Anh, “tín nhiệm” là “confidence”, có nghĩa là “niềm tin” và được giải thích là niềm tin đặt vào ai đó hoặc việc gì đó. Trái lại, bất tín nhiệm nghĩa là mat niềm tin vào ai hoặc việc gì đó.
Do vậy, bỏ phiếu tín nhiệm/bất tín nhiệm có thé hiểu là bỏ phiếu cho niềm tin hoặc bỏ phiếu thể hiện sự mắt niềm tin Từ cách hiểu thông thường như vậy, thuật ngữ “tin nhiệm ” được xem xét dưới góc độ pháp lý, trở thành hành vi được pháp luật quy định liên quan đến việc đánh giá niềm tin đối với một chủ thể, trên cơ sở việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Hiện nay pháp luật Việt Nam quy định hai cơ chế liên quan đến van đề tín nhiệm, đó là lay phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2, Nghị quyết số 35/2012/QH13, Jay phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân thăm dò mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ của cơ quan, tô chức có thẩm quyên. Day là thuật ngữ pháp lý mới ở Việt Nam, lần đầu tiên được quy định trong một văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành.
Như vậy, lẫy phiếu tín nhiệm là hành vi thăm dò mức độ tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Phiếu tín nhiệm là thước đo lòng tin của các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân — những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân đối với các chức danh quan trọng. Với ba mức tín nhiệm là tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp, lấy phiếu tín nhiệm là bước đệm dé đi đến bỏ phiếu tín nhiệm. Qua 7 trình lay phiếu được tiễn hành dân chủ, khách quan, công băng, công khai sẽ là cơ sở quan trọng để bố trí và sử dụng cán bộ.
Kết quả của việc lấy phiếu tín nhiệm là một trong những căn cứ quan trọng để các cơ quan, tổ chức liên quan xem xét trong việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ phù hợp với phẩm chat, năng lực và khả năng công hiến của mỗi người, đặc biệt là trong thời điểm hiện nay, khi các cấp có thâm quyền đang đây mạnh công tác quy hoạch cán bộ Bên cạnh khái niệm lay phiéu tin nhiém 1a khai niém bo phiéu tin nhiém. Bỏ phiếu tin nhiệm là thuật ngữ pháp lý hiện được đề cập trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân và một số văn bản pháp luật khác. Các văn bản này mới chỉ đề cập đến bỏ phiếu tín nhiệm như là một công cụ thực hiện quyền giám sát của các cơ quan dân cử chứ chưa có giải thích cụ thể. Nghị quyết 35/2012/QH13 lần dau tiên giải thích thuật ngữ bỏ phiếu tin nhiệm dưới góc độ pháp lý như sau: “Bỏ phiếu tin nhiệm là việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân thể hiện sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm đối với người giữ chức vụ đo Quốc hội, Hội đồng nhân dân bau hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức người không được Quốc hội, Hội đồng nhân dân tín nhiệm” (Khoản 2 Điều 2).
Nếu như lấy phiếu tín nhiệm là dé thăm dò, là bước đệm thì bỏ phiếu tín nhiệm là bước tiếp theo, không nhằm mục đích thăm dò nữa mà có giá trị quyết định. Dựa vào kết quả bỏ phiếu với hai mức là tín nhiệm hay không tín nhiệm, cơ quan dân cử sẽ có căn cứ để quyết định sinh mệnh chính trị của một người do mình bầu hoặc phê chuẩn. Người giữ chức vụ nếu không được một tỷ lệ đại biểu nhất định tín nhiệm sẽ phải đôi mặt với một trong các chế tài có thể đặt ra liên quan đến sự chấm dứt chức vụ dang đảm nhiệm. Lay phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là một trong những công cụ hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, thậm chí là công cụ giảm sát mạnh nhất hiện nay.
Là các cơ quan do nhân dân hình thành bằng con đường bầu cử trực tiếp, Quốc hội, Hội đồng nhân có 8 vai trò to lớn trong việc hình thành bộ máy nhà nước. Do đó, cơ quan này sẽ có quyền giám sát các chức danh do mình bầu hoặc phê chuẩn có thực hiện đúng và hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn được giao hay không. Đồng thời, co quan dân cử hình thành nên các chức danh này thì phải chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của chức danh do mình hình thành. Đây chính là trách nhiệm của cơ quan dân cử, của người đại biểu dân cử trước cử tri, trước nhân dân.
Trong hai khái niệm này, lẫy phiếu tín nhiệm là khái niệm còn tương đối mới mẻ trong kho từ vựng pháp lý của Việt Nam. Ngay từ bản Hiến pháp đặt nền móng cho lich sử lập hiến Việt Nam — Hiến pháp 1946, thuật ngữ “bỏ phiếu tín nhiệm” đã được ghi nhận. Song, những quy định đó trong Hiến pháp năm 1946 không được kế thừa và phát huy trong các bản Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992. Đến khi sửa đổi Hiến pháp 1992 vào năm 2001 và trong các văn bản pháp luật sau này, bỏ phiếu tín nhiệm được ghi nhận là một trong những quyền hạn của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp để đảm bảo hiệu quả việc thực hiện chức năng giám sát của các cơ quan này.
Ngày 21 tháng 11 năm 2012 tại ky họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 35 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Đây là lần đầu tiên thuật ngữ “Jay phiếu tín nhiệm” được ghi nhận, cũng là lần đầu tiên có một văn bản quy định tương đối tập trung, đầy đủ và chi tiết về hoạt động lay phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm.Về mặt thực tiễn, cả lẫy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm đều là hoạt động rất mới. Nếu như lẫy phiếu tín nhiệm đã được tiến hành tại kỳ họp thứ Năm, Quốc hội khóa XIII và tại Hội đồng nhân dân các cấp thì bỏ phiếu tín nhiệm đến nay chưa thực hiện bao giờ. Trong khi đó, bỏ phiếu tín nhiệm là hoạt động tương đối phô biến trên nghị trường thế giới.
Đây là công cụ quan trọng để Nghị viện/Quốc hội các nước thực hiện quyền giám sát của mình, đặc biệt là giám sát khối hành pháp. Khác với nhiều nước trên thế giới, lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm ở Việt Nam mang nhiều nét đặc thù, xuất phát từ đặc trưng của hệ thống 9 chính trị Việt Nam. Một /d, có lẽ ít có nước nao đề cập đến thuật ngữ “lấy phiếu tin nhiệm ` là một hình thức giám sát cua Quốc hộiNghị viện. Ở các nhà nước tô chức quyền lực theo nguyên tắc tam quyền phân lập với chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng, cơ quan dân cử có thé áp dụng những công cụ giám sát mạnh mẽ, quyết liệt.
Bỏ phiếu tin nhiém/bat tín nhiệm là hình thức kiểm soát quyền lực thường được sử dụng ở những nước này. Có thé coi đây như là khâu cuối cùng trong quá trình giám sát mà kết quả của nó là sự thé hiện rõ nhất trách nhiệm của Chính phủ trước Nghị viện. Kết quả bỏ phiếu tín nhiém/bat tín nhiệm thường dẫn tới sự từ chức của Chính phủ và có thé là sự giải tan Nghị viện. Đôi khi hoạt động nay còn gắn với những thủ đoạn chính trị, là hình thức “tan công” lẫn nhau giữa dang cam quyền và đảng đối lập.
Bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay được tô chức theo nguyên tắc “quyên lực nhà nước là thong nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước. "(Điều 2 Hiến pháp 2013), với cơ chế một đảng lãnh đạo. Chính vì thế, hoạt động giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan nhà nước, đặc biệt là đối với Chính phủ không mạnh mẽ như ở các nước có chế độ đa đảng. Về cơ bản, hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở những cảnh báo, nhắc nhở, không có khả năng áp dụng chế tài của giám sát, làm cho hiệu quả hoạt động giám sát không cao.
Với bỏ phiếu tín nhiệm, đây là quyền Quốc hội tìm cơ sở dé quy kết trách nhiệm chính trị đối với các cán bộ cao cấp. Trách nhiệm này được xác lập dựa trên sự tín nhiệm, nếu sự tín nhiệm không còn thì có thể áp dụng các biện pháp chế tài miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức. Trong khi đó, lay phiếu tín nhiệm là một bước dé thăm dò mức độ tín nhiệm, làm căn cứ cho việc phân loại, đánh giá, bố trí cán bộ của cơ quan, tổ chức có thấm quyền. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm là một trong những cơ sở để tiến tới bỏ phiếu tín nhiệm chứ không ngay lập tức dẫn tới các chế tài.
Day là một cơ chế tương đối mềm dẻo, linh hoạt và thích hợp với điều kiện Việt Nam. 10 Hai là, nêu như ở nhiều nước, đối tượng áp dụng của bỏ phiếu tin nhiém/bat tín nhiệm chủ yếu là Chính phủ hành pháp thì ở Việt Nam, đối tượng của lay phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm rất rộng, là rất nhiều các cơ quan, chức vụ. Pháp luật các quốc gia đều quy định Chính phủ phải chịu trách nhiệm chính trị trước Nghị viện/Quốc hội về những hoạt động của mình. Vấn đề tín nhiệm thường đặt ra đối với Chính phủ liên quan đến kết quả hoạt động của Chính phủ hoặc một động thái, một dự luật, một chính sách của Chính phủ.
Đối tượng áp dụng của lay phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm ở nước ta nằm ở cả ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp.