phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương, 6 tiết. 9 z NỘI DUNG Chƣơng 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TRIẾT HỌC THOMAS KUHN VÀ KHÁI QUÁT VỀ TÁC PHẨM CẤU TRÚC CÁC CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC 1. Điều kiện và tiền đề ra đời triết học Thomas Kuhn 1. Điều kiện kinh tế - xã hội và khoa học Triết gia Thomas Kuhn đã sống trọn cuộc đời mình trong khoảng thời gian đầy biến động của nước Mỹ ở thế kỷ XX.
Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế của nước Mỹ đã đưa quốc gia này nhanh chóng đạt tới vị thế “siêu cường”, bỏ xa các nước khác (kể cả Tây Âu và Nhật Bản), nơi vẫn chìm trong khủng hoảng, chiến tranh và lạc hậu. Thế kỷ XX cũng là thế kỷ đầy những biến đổi quan trọng về chính trị của nước Mỹ, với sự dính líu trực tiếp và gián tiếp vào cả hai cuộc chiến tranh thế giới. Thêm vào đó, sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, mà nước Mỹ là trọng tâm, đã tạo điều kiện thúc đẩy hơn nữa sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội. Những đặc điểm quan trọng trên đây cho thấy, thế kỷ XX là một thế kỷ đầy biến động của nước Mỹ và chính nó đã tạo điều kiện quan trọng cho sự ra đời của triết học Thomas Kuhn.
Cuối thế kỉ XIX, trong số các nước công nghiệp tiên tiến, Mỹ là nước có nền kinh tế phát triển hơn cả. Sản xuất gang, thép, máy móc… chiếm địa vị hàng đầu thế giới. Ngành công nghiệp trở thành đầu tàu lôi kéo sự đi lên của các ngành khác với quá trình tập trung hóa cao độ và hình thành các tập đoàn công nghiệp hay các công ty tập trung. Nông nghiệp cũng đạt được những thành tựu đáng kể.
Nhờ điều kiện thiên nhiên thuận lợi (đất đai rộng và màu mỡ) kết hợp với phương thức canh tác hiện đại (chuyên canh, sử dụng máy móc và phân bón), Mỹ đã trở thành vựa lúa và nơi cung 10 z cấp thực phẩm cho châu Âu. Ngoài những thuận lợi về nông nghiệp, nước Mỹ còn có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú (đặc biệt là mỏ vàng, mỏ dầu lửa); có nguồn lao động dồi dào, tay nghề cao luôn được bổ sung bởi luồng người nhập cư. Hàng loạt các tập đoàn tài chính, ngân hàng lớn cũng lần lượt ra đời. Sự phát đạt của các công ty cũng như sự thịnh vượng của nền kinh tế đã đem lại sự giàu có thật sự và nhiều lợi ích cho đa số người dân, đồng thời tạo nên lối sống tiêu dùng của phần lớn công dân Mỹ như là một đặc trưng cho văn hóa quốc gia này.
Những năm 20 thế kỷ XX, nước Mỹ bước vào giai đoạn hoàng kim với hàng loạt những thành tựu quan trọng đạt được về kinh tế. Sản lượng công nghiệp của Mỹ đã đạt gần ½ sản lượng công nghiệp toàn thế giới. Về tài chính, Mỹ nắm hơn 60% dự trữ vàng của thế giới, với mức độ tập trung cao trong công nghiệp, nguồn vốn lớn, Mỹ bắt đầu tăng cường đầu tư ra bên ngoài. Dù là nước tham chiến trong cuộc chiến tranh Thế giới thứ II, tuy nhiên, do các yếu tố khác nhau, nước Mỹ không bị tàn phá bởi chiến tranh.
Ngược lại, Mỹ lại là nước thu lợi rất lớn từ cuộc chiến tranh này bằng việc buôn bán vũ khí. Dù công nghiệp có đôi phần suy giảm song đã nhanh chóng lấy lại đà phục hồi. Sau chiến tranh, nhu cầu tiêu dùng của dân chúng tăng nhanh, thị trường thế giới đang đòi hỏi sự cung ứng hàng hóa rất cao. Điều đó, khiến cho nền kinh tế Mỹ tiếp tục vươn lên nhanh chóng ngay sau chiến tranh.
Trong khoảng nửa sau những năm 40 thế kỷ XX, sản lượng công nghiệp Mỹ chiếm hơn một nửa sản lượng công nghiệp thế giới. Liên tục trong các thập niên 50, 60 và 70 của thế kỷ XX, kinh tế Mỹ tiếp tục phát triển khá, nhiều ngành sản xuất mới ra đời như khai thác khí đốt, dầu mỏ, công nghiệp hóa học, điện tử, hàng không, năng lượng nguyên tử và khám phá vũ trụ cũng diễn ra sôi nổi và đạt được nhiều thành tựu lớn. Công nghiệp điện tử cũng đạt được các thành tựu rất nổi bật. Ngành nông nghiệp 11 z Mỹ cũng đã đạt được sự phồn vinh chưa từng có từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Các lĩnh vực mậu dịch và xuất khẩu tư bản ra nước ngoài của Mỹ cũng tăng nhanh chóng trong thời kỳ này. Tuy nhiên, kinh tế Mỹ đã không dưới một lần trải qua những cuộc suy thoái nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đã phá hủy gần như hoàn toàn nền kinh tế non trẻ của Mỹ. Lĩnh vực ngân hàng với bong bóng chứng khoán đã dẫn tới sự sụp đổ của các thế lực tài chính hùng mạnh, lạm phát tiền tệ, các ngân hàng vỡ nợ liên tục, các nghiệp đoàn công nghiệp liên tục phá sản, nông sản số lượng lớn nhưng không có đầu ra trở nên rẻ mạt, trong khi các hàng hóa khác lại khan hiếm trở nên rất đắt đỏ, hàng nghìn thanh niên không có việc làm, đời sống người dân trở nên khó khăn.
Từ nửa cuối thập kỷ 70 trở đi, kinh tế Mỹ lại phải đối phó với sự suy giảm của nền kinh tế và cạnh tranh mạnh mẽ của các nước khác mới trỗi dậy. Nhất là sự đòi hỏi của các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã buộc Mỹ nói riêng và thế giới tư bản nói chung phải tính toán lại chiến lược phát triển của mình vì về cơ bản sự phát triển dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào và giá rẻ đã không còn là ưu thế vượt trội nữa. Chính vì thế, khoa học công nghệ chính là chìa khóa cho sự phát triển nhanh và mạnh mẽ hơn nữa của nước Mỹ. Nói chung, “nước Mỹ đã trở thành cường quốc công nghiệp lớn nhất thế giới… Như Tocqueville dự đoán, thế kỷ XX là thế kỷ của nước Mỹ.
Nói rõ hơn, những năm giữa thế kỷ, nước Mỹ thực sự đi đầu thế giới vào xã hội công nghiệp”[13, tr. Về chính trị, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sự phát triển nhanh chóng của phương thức tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới việc chủ nghĩa tư bản phương Tây tranh giành tìm kiếm những thị trường mới. Đồng thời giai đoạn này cũng chứng kiến sự biến chuyển của Mỹ từ một nền cộng hòa non trẻ sang một nước đế quốc với xu hướng mở rộng tầm ảnh hưởng ra khu vực Thái Bình Dương và khu vực Mỹ - La tinh với hàng loạt những quyết sách 12 z như mua lại Alaska từ Nga (1867), kiểm soát Puerto Rico, Guam, Cuba và quần đảo Philippines (sau khi thắng Tây Ban Nha năm 1898), sáp nhập quốc đảo Hawaii (năm 1893), xây dựng kênh đào Panama (năm 1914) nhằm đáp ứng những toan tính về vị trí địa lý… Đồng thời Mỹ cũng dần từ bỏ thế đứng trung lập hay còn gọi là chủ nghĩa biệt lập Mỹ trong ngoại giao thời Thế chiến 1 để chính thức bước vào Thế chiến 2 sau sự kiện Trân Châu Cảng. Nước Mỹ sau chiến tranh Thế giới thứ II là điển hình của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
Đặc điểm quan trọng của nền chính trị Mỹ là chế độ hai đảng: Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ thay nhau cầm quyền. Dù có những sự khác biệt song thực ra cả hai đều đại diện cho quyền lợi của giai cấp tư sản Mỹ. Chế độ chính trị ở Mỹ là chế độ Tổng thống với quyền lực trực tiếp và rất lớn, nắm cả bộ máy hành pháp và quân sự. Phe xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc do Liên Xô đứng đầu trở thành đối trọng với hệ thống các nước đế quốc đặc biệt là Mỹ.
Từ sau Thế chiến thứ II, trật tự 2 cực (Mỹ và Liên Xô) được thiết lập, do dó, nền chính trị Mỹ cũng bị ảnh hưởng và có sự điều chỉnh. Nhằm thực hiện việc bao vây, cô lập Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, một mặt, Mỹ tiếp tục thực hiện “Chính sách ngăn chặn”, mặt khác, “Kế hoạch phục hưng Châu Âu” (Kế hoạch Macsan) ra đời nhằm vực dậy Tây Âu và Nhật Bản. Về xã hội, trong đời sống xã hội Mỹ có sự phân hoá sâu sắc. Cá nhân hình thành và được rèn giũa trong môi trường cạnh tranh khốc liệt đã chứng tỏ tính độc đáo, tính không lặp lại của mình, song cũng đứng trước những thách thức thường xuyên của quy luật đào thải không thương tiếc.
Giai cấp tư sản Mỹ tập trung vào các cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, với mục tiêu cải thiện cuộc sống, biến đổi tự nhiên, và củng cố địa vị của mình. Tính cách mạng được thay bằng tính biện hộ. Hệ thống giá trị văn hóa và đạo đức cũng chuyển đổi cho phù hợp với những đòi hỏi của thời đại mới, trong đó nhấn mạnh đến tính năng động, sáng tạo, kể cả những biểu hiện “lệch chuẩn”, phá 13 z cách, dám nghĩ dám làm, tính hiệu quả. Bên cạnh đó, điều kiện xã hội cũng góp phần hình thành chủ nghĩa vị kỷ và óc thực dụng trong một bộ phận công dân.
Tính hai mặt của đời sống ngày càng bộc lộ rõ nét, kéo theo sự đổ vỡ hàng loạt chuẩn mực và giá trị truyền thống. Sự phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp, nợ nần,… vẫn là những vấn đề không dễ khắc phục và ngày càng trở thành một trong những nguồn gốc sâu xa của sự không ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội mỹ. “Ở Mỹ có khoảng 400 người thu nhập hàng năm từ 185 triệu USD trở lên, rất tương phản với 25 triệu người khác sống dưới mức tối thiểu của người Mỹ”[3, tr. Tình trạng bất an trong xã hội Mỹ cũng là điều đáng lo ngại cho người dân Mỹ.
Tội ác, bạo lực, tệ nạn xã hội thường xuyên xảy ra. Xã hội luôn tiềm ẩn nguy cơ bất ổn và khủng hoảng về niềm tin. Sự phân biệt chủng tộc đã khiến xã hội Mỹ rơi vào những vòng xoáy của sự đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người da màu và thổ dân bản địa. Điều này cũng làm cho xã hội Mỹ rơi vào tình trạng phân hóa gay gắt.
Tuy nhiên, về cơ bản xã hội Mỹ vẫn là xã hội tương đối phát triển với tính đa dạng và đời sống cao. Từ thành quả trong suốt mấy thập kỷ phát triển kinh tế với những thành tựu vượt bậc, đời sống của đại đa số dân chúng Mỹ đã được nâng cao rõ rệt. Người Mỹ được thụ hưởng mức lương cao, các tiện nghi sinh hoạt, đời sống tinh thần cũng phong phú.