CHƯƠNG 1 Tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, lý do chọn đề tài và tính cấp thiết cho việc thực hiện khóa luận. Bên cạnh đó, đề cập đến phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thêm vào đó các câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu cần đạt cũng được đặt ra nhằm làm cơ sở để tác giả tiếp tục nghiên cứu ở các chương tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm hiệu quả Theo Coelli và cộng sự (2005) khi chuyển đổi đầu vào thành đầu ra và giá trị đầu ra đó mang về lớn hơn đầu vào thì được xem là hoạt động có hiệu quả.
Để đánh giá hiệu quả hoạt động giữa các đơn vị với nhau có thể so sánh số lượng sản phẩm đơn vị cung cấp với nguồn lực được dùng để tạo ra sản phẩm. Một đơn vị kinh tế được cho rằng hoạt động hiệu quả hơn đơn vị kinh tế khác khi cung cấp sản phẩm nhiều hơn với nguồn lực được sử dụng ít hơn. Theo Greene (2008) sản xuất được coi là hiệu quả khi tối ưu đầu vào sẵn có tạo ra tối đa sản phẩm có thể hoặc sản phẩm được sản xuất với chi phí tối thiểu. Hiệu quả có thể được đo lường bằng cách so sánh chi phí, doanh thu và lợi nhuận tối ưu.
Theo Berger và Humphrey (1997) việc đo lường hiệu quả là thiết yếu, thông tin thu được từ kết quả đo lường có thể được sử dụng để: (1) xem xét tính đúng đắn của chính sách chính phủ bằng cách đánh giá tác động của việc thay đổi các quy định, hoạt động sáp nhập hoặc cấu trúc thị trường đến hiệu quả; (2) giải quyết các vấn đề nghiên cứu; và (3) cải thiện hiệu suất và năng lực quản lý. Như vậy, hiệu quả là kết hợp của việc tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào như nguồn lực tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất và các yếu tố khác để tối ưu hóa đầu ra. Hiệu quả có thể được đo lường bằng cách lấy kết quả kinh doanh trừ đi chi phí hoặc được đo lường bằng cách so sánh tỷ lệ giữa đầu vào và đầu ra. Chính vì thế, trong kinh tế hiệu quả được xem là chỉ tiêu đánh giá khả năng sử dụng và phân bổ nguồn lực của đơn vị hay tổ chức.
Khái niệm hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại Theo Rose (2002) HQHĐ tại các NHTM là khả năng tạo ra lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững của NHTM. Đối với NHTM ngoài nhân lực và cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính cho các hoạt động kinh doanh như nhận tiền gửi tiết kiệm, cho vay và đầu tư cũng sẽ được xem xét để đo lường HQHĐ của NHTM. 8 Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), trong hoạt động của NHTM, theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả hoạt động có thể hiểu ở hai khía cạnh như sau: thứ nhất là khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác; thứ hai là xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Tóm lại, quan điểm về HQHĐ của NHTM rất đa dạng, các khái niệm được khai thác khác nhau tùy theo góc độ và mục tiêu nghiên cứu.
Nhìn chung HQHĐ của các NHTM được hiểu là kết quả lợi nhuận đạt được sau khi tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào và tối đa hóa đầu ra, ngoài ra còn phải đảm bảo tính bền vững và an toàn hoạt động của NHTM. Chính vì thế, HQHĐ còn được dùng để phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực của các ngân hàng. Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều phương pháp để đo lường HQHĐ của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Rose (2002) cho rằng HQHĐ của NHTM có thể được đo lường thông qua ROA, ROE và NIM.
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) là chỉ số phản ánh khả năng quản lý trong việc chuyển đổi tài sản thành thu nhập ròng. Chỉ số này cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng tài sản và được tính theo công thức sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐴 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ số phản ánh lợi nhuận của các cổ đông từ việc đầu tư vào ngân hàng, do đó ROE là chỉ số các cổ đông quan tâm hàng đầu. Công thức tính của ROE như sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐸 = 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 9 Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NIM) đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi và các chi phí ngoài lãi ngân hàng phải trả. Công thức tính như sau: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ừ 𝑙ã𝑖 − 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑡𝑟ả 𝑙ã𝑖 𝑁𝐼𝑀 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 sinh 𝑙ã𝑖 2.
CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN 2. Lý thuyết về quyền lực thị trường (Marker Power Theory - MP) Lý thuyết về quyền lực thị trường có hai hướng tiếp cận phổ biến là lý thuyết Cấu trúc (Structure) – Hành vi (Conduct) – Hiệu quả (Performance) (SCP) và lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (Relative Market Power – RMP) (Chortareas và cộng sự, 2011). Lý thuyết SCP được đề xuất bởi Chamberlin (1933), Robinson (1933) và tiếp tục phát triển bởi Bain (1951), cho rằng việc tập trung cao của các ngân hàng góp phần gia tăng sức mạnh độc quyền và giảm sự cạnh tranh (Chortareas và cộng sự, 2011). Mức độ tập trung cao dẫn đến kém cạnh tranh, khi đó các ngân hàng với khả năng tập trung cao sẽ có nhiều khả năng thao túng thị trường bằng việc gia tăng lãi suất cho vay và giảm lãi suất huy động (Van Hoose, 2010; Yeyati và Micco, 2004).
Lý thuyết RMP được phát triển bởi Smirlock (1985), lý thuyết này cho thấy các doanh nghiệp có thị phần lớn và sự đa dạng trong sản phẩm sẽ hoạt động tốt hơn và thu về nhiều lợi nhuận hơn phần còn lại (Chortareas và cộng sự, 2011). Một cách vượt qua cạnh tranh là đa dạng hóa, bằng cách gia nhập vào các thị trường mới, các doanh nghiệp có thể đạt được sức mạnh cạnh tranh trên thị trường đó. Theo Palich và cộng sự (2000) các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường dễ dàng kiểm soát giá cả bằng cách chiết khấu từ đó giảm thiểu sự gia nhập ngành đến từ các đối thủ cạnh tranh tiềm năng. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficient Structure Theory – ES) Lý thuyết ES được đề xuất bởi Demsetz (1973) nhấn mạnh mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và HQHĐ của doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc HQHĐ 10 của doanh nghiệp tạo nên cấu trúc thị trường.
Tương tự như lý thuyết quyền lực thị trường, lý thuyết cấu trúc hiệu quả cũng đươc đề xuất theo hai hướng tiếp cận khác nhau. Theo hướng tiếp cận hiệu quả X (X - Efficiency) thì doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn thu về lợi nhuận cao hơn, chiếm thị phần lớn hơn bởi vì họ tối ưu chi phí kinh doanh (Al-Muharrami và Matthews, 2009). Đối với hướng tiếp cận hiệu quả quy mô (Scale – Efficiency), Olweny và Shiphoo (2011) cho rằng so với ngân hàng nhỏ thì ngân hàng lớn có chi phí sản xuất kinh doanh thấp hơn, từ đó đạt lợi nhuận cao hơn nhờ vào tính kinh tế theo quy mô. Tóm lại, các lý thuyết về đánh giá HQHĐ rất đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu mà được xem xét theo nhiều yếu tố khác nhau.
Theo lý thuyết quyền lực thị trường thì HQHĐ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như thị trường, mức độ tập trung, sự cạnh tranh. Ngược lại, lý thuyết cấu trúc hiệu quả cho rằng HQHĐ của ngân hàng bị tác động bởi các yếu tố bên trong như chi phí sản xuất, chi phí quản lý. Như vậy có thể hiểu HQHĐ của ngân hàng chịu tác động bởi cả yếu tố bên trong và bên ngoài. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.
Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Chou và Buchdadi (2016) xác định tác động của các biên đến hiệu quả hoạt động 164 ngân hàng nông thôn ở Indonesia (BPR) giai đoạn 2009 đến 2012. Kỹ thuật phân tích được sử dụng trong bài nghiên cứu này là hồi quy dữ liệu bảng (panel data regression), với tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) và biên lãi ròng (NIM) là biến phụ thuộc và các chỉ số như tỷ lệ chi phí (BOPO), tỷ lệ an toàn vốn (CAR), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) được xem như là biến độc lập. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chi phí hoạt động (BOPO) và tỷ lệ nợ xấu (NPL) có ý nghĩa thống kê và tác động ngược chiều với hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng nông thôn ở Indonesia. Trong khi đó, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) không mang ý nghĩa thống kê đối với mô hình nghiên cứu.
11 Nghiên cứu của Al-Homaidi và cộng sự (2020) kiểm tra tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến khả năng sinh lời (KNSL) của 37 NHTM niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Bombay (BSE), Ấn độ giai đoạn 2008 – 2017. Nhóm tác giả sử dụng ROA và ROE để đại diện cho HQHĐ của NHTM, dữ liệu được thiết kế dưới dạng bảng và phương pháp hồi quy với các mô hình như: Pooled OLS, FEM, GMM. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số an toàn vốn, tỷ lệ tiền gửi, hiệu quả hoạt động, GDP và tỷ lệ lạm phát có tác động tiêu cực đáng kể đến ROA. Ngoài ra, hệ số an toàn vốn, quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, GDP và tỷ lệ lạm phát có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng được đo bằng ROE.
Ngược lại, chất lượng tài sản và quản lý tài sản có tác động tích cực đến ROE, các biến tính thanh khoản, tỷ lệ tiền gửi, biên lãi ròng và thu nhập ngoài lãi tác động không đáng kể đến ROE. Adelopo và cộng sự (2018) đã nghiên cứu về KNSL của các NHTM thuộc Cộng đồng Kinh tế Tây Phi (ECOWAS) trước (1999 – 2006), trong (2007 – 2009) và sau (2010 - 2013) khủng hoảng kinh tế. Sử dụng dữ liệu bảng với phương pháp hồi quy các mô hình Pooled OLS, FEM, REM. Nhóm tác giả lựa chọn ROA và thu nhập lãi cận biên (NIM) làm đại diện cho KNSL nhằm đánh giá HQHĐ của các NHTM.
Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng, vốn chủ sở hữu, GDP và tỷ lệ lạm phát có tác động tích cực đến ROA và NIM.