đặt vấn đề; tính cấp thiết của đề tài; mục tiêu của đề tài và đƣa ra câu hỏi nghiên cứu để giải thích cho các mục tiêu đề tài; đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu; phƣơng pháp nghiên cứu; đóng góp của đề tài và bố cục cài đề tài nghiên cứu. Chƣơng 2: Tổng quan về lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Trong chƣơng 2 này, tác giả sẽ trình bày nội dung của những lý thuyết nền tảng về RRTK của các ngân hàng. Bên cạnh đó, tác giả tiến hành lƣợc khảo các nghiên cứu thực nghiệm trong nƣớc và ngoài nƣớc trƣớc để xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến RRTK để làm cơ sở đề xuất ra mô hình nghiên cứu. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Dựa trên cơ sở lý thuyết ở chƣơng 2 và việc kế thừa từ các công trình nghiên cứu trƣớc, thì chƣơng 3 sẽ đề xuất ra mô hình nghiên cứu, từ đó trình bày tiến trình nghiên cứu, các biến trong mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, đƣa ra các giả thuyết nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài.
Chƣơng 4: Kết quả và thảo luận kết quả yếu tố ảnh hƣởng đến rủi ro thanh khoản tại các Ngân hàng Thƣơng mại Việt Nam 5 Chƣơng này tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu dựa trên mô hình đã đƣợc đề xuất ở chƣơng 3 và các dữ liệu đã thu thập đƣợc từ 26 Ngân hàng TMCP tại Việt Nam, để thực hiện các bƣớc kiểm định và ƣớc lƣợng các biến trên phần mềm Stata 16. Từ kết quả đó, tác giả tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu trên các giả thuyết mà tác giả đã đƣa ra, sau đó sẽ kiểm định các khuyết tật của mô hình và đƣa ra kết luận. Chƣơng 5: Kết luận và khuyến nghị Từ kết quả của chƣơng 4 thì chƣơng 5 sẽ đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài, những hạn chế và hƣớng phát triển tiếp theo. Từ đó đƣa ra những khuyến nghị cho các NHTM tại Việt Nam để hạn chế những yếu tố làm ảnh hƣởng đến rủi ro thanh khoản của Ngân hàng.
TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Trong chƣơng này tác giả đã đƣa ra đƣợc những vấn đề cơ bản của khóa luận và đƣa ra đƣợc các vấn đề về RRTK đã xảy ra trƣớc đây trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, qua các phần cụ thể nhƣ mục tiêu nghiên cứu, đối tƣởng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp và nội dung nghiên cứu cũng nhƣ đƣa ra đƣợc đóng góp và bố cục cho đề tài. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Tổng quan rủi ro thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm về rủi ro thanh khoản RRTK theo Gup & Kolari (2005) thì RRTK là rủi ro xuất phát từ việc thiếu hụt nguồn cung tiền mặt hoặc các tài sản tƣơng đƣơng tiền, hay là từ việc thiếu khả năng huy động nguồn cung thanh khoản với mức chi hợp lý, bán hay chuyển đổi một tài sản thành tiền mặt với giá hợp lý.
Ngoài ra, RRTK có thể hiểu là nguy cơ không thể thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán, hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, theo đó kéo theo những hậu quả không mong muốn (Duttweiler, 2009). RRTK đƣợc hiểu là tình huống ngân hàng không thể đáp ứng tất cả các yêu cầu của ngƣời gửi tiền hoặc toàn bộ hoặc một phần trong khoảng thời gian nhất định (Jenkinson, 2008). RRTK còn có thể hiểu là ngân hàng không có khả năng đáp ứng các nhu cầu tài chính ngắn hạn. RRTK không chỉ làm ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà còn ảnh hƣởng đến uy tín của ngân hàng.
Phƣơng pháp đo lƣờng rủi ro thanh khoản Theo Trƣơng Quang Thông (2013) thì RRTK có thể đo lƣờng bằng hai phƣơng pháp là khe hở tài trợ và các chỉ số thanh khoản. Mỗi nghiên cứu thực nghiệm sẽ trình bày các phƣơng pháp đo lƣờng khác nhau, mỗi phƣơng pháp sẽ đƣợc xây dựng trên một số giả định. Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản dựa vào khe hở tài trợ Khe hở tài trợ đã đƣợc nhà nghiên cứu Saunders & Cornett (2006) dùng để đo lƣờng RRTK. Các khoản cho vay truyền thống không có tính thanh khoản cao, do đó các khoản rút tiền lớn và không thể đoán trƣớc có thể dẫn đến vỡ nợ ngân hàng (Radowski và cộng sự, 2008).
Theo Vodova (2013) thì cho rằng khe hở tài trợ là chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn ở cả thời điểm hiện tại và tƣơng lai. Theo Đặng Văn Dân (2015) khe hở tài trợ thể hiện dấu hiệu cảnh báo về RRTK trong tƣơng lai của ngân hàng. Khe hở tài trợ là sự chênh lệch giữa bình quân các khoản tín dụng và bình quân huy động vốn chia cho tổng tài sản. Nếu khe hở tài trợ là dƣơng và ngân hàng có khe hở tài trợ lớn thì sẽ buộc các ngân hàng phải giảm tiền mặt dự trữ và giảm các tài sản thanh khoản hoặc đi vay bổ sung trên thị trƣờng tiền tệ.
Nếu khe hở tài trợ âm là ngân hàng đang có nguồn vốn huy động dƣ thừa thì có thể gia tăng dự trữ thanh khoản nhƣ là mua tài sản có tính thanh khoản cao hoặc sử dụng để cho vay. Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản dựa vào các chỉ số thanh khoản Phƣơng pháp đo lƣờng RRTK ngân hàng theo phƣơng pháp chỉ số thanh khoản đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu. Phƣơng pháp này ƣớc tính và đo lƣờng RRTK dựa vào các chỉ số tài chính hay các chỉ số thanh khoản thông dụng. Đến nay trong nghiên cứu của các tác giả Aspach & cộng sự (2005), Praet & Herzberg (2008), Vodova (2011) đã tập trung vào các tỷ số thanh khoản nhƣ: Tỷ lệ L1 sẽ cung cấp thông tin về khả năng thanh khoản chung của một ngân hàng.
Bao gồm tiền mặt, số dƣ với các ngân hàng trung ƣơng và các ngân hàng 8 khác, chứng khoán nợ do chính phủ phát hành. Tỷ lệ này càng cao của tài sản lƣu động trong tổng tài sản, khả năng càng cao để hấp thụ cú sốc thanh khoản, do tính thanh khoản của thị trƣờng giống nhau đối với tất cả các ngân hàng trong mẫu. Tuy nhiên, giá trị cao của tỷ lệ này cũng có thể đƣợc hiểu là không hiệu quả. Vì tài sản lƣu động mang lại thu nhập thấp hơn tính thanh khoản chịu chi phí cơ hội cao cho ngân hàng.
Vì vậy cần phải tối ƣu hóa mối quan hệ giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời. Tỷ lệ L2 càng cao thì chứng tỏ khả năng thanh khoản của ngân hàng tốt. Tỷ lệ này tập trung vào sự nhảy cảm của ngân hàng đối với các loại tài trợ bao gồm tiền gửi của hộ gia đình, doanh nghiệp, ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. Tỷ lệ L3 này thể hiện tỷ trọng của các khoản cho vay trên tổng tài sản của ngân hàng.
Tỷ số này càng cao thì việc ngân hàng đang có khoản dự trữ tiền mặt và tài sản thanh khoản càng thấp do ngân hàng đang tài trợ, giải ngân cho vay lớn, điều này dẫn đến nguy cơ xuất hiện RRTK của ngân hàng cao. Tỷ lệ L4 là tỷ lệ dùng để đo lƣờng tỷ trọng giữa tài sản có tính thanh khoản kém nhƣ là các khoản cho vay và nguồn vốn có tính thanh khoản cao nhƣ tiền gửi, các nguồn vốn ngắn hạn. Tỷ lệ này phản ánh số tiền cho vay lớn gấp bao nhiêu lần số tiền huy động đƣợc. Chính vì thế tỷ lệ này càng cao thì RRTK sẽ càng cao.
Phƣơng pháp đo lƣờng RRTK bằng chỉ số thanh khoản sẽ đƣợc tính dễ dàng dựa vào số liệu trên bảng cân đối kế toán của các NHTM và đƣợc sử dụng phổ biến trong các đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, phƣơng pháp này không thể xác định đƣợc 9 toàn bộ các yếu tố tác động đến RRTK mà chỉ đánh giá đƣợc một số yếu tố nhất định. Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hƣởng đến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thƣơng mại Theo lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) (Spence,1973), các ngân hàng có quy mô lớn sẽ mang lại tín hiệu tích cực cho hoạt động vốn, giúp mở rộng từ nhiều nguồn vốn khác nhau và giúp ngân hàng tăng khả năng thanh khoản. Theo nghiên cứu của Akhtar & cộng sự (2011) thì quy mô ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều đối với khả năng thanh khoản, có thể hiểu là ngân hàng có tổng tài sản càng lớn thì khả năng thanh khoản càng cao.
Tuy nhiên theo Greg (2009) về lý thuyết quá lớn để đổ vỡ (The too big to fail theory) thì lại cho rằng quy mô của ngân hàng càng lớn sẽ làm giảm thiểu khả năng thanh khoản của ngân hàng. Thì nghiên cứu của Iannotta & cộng sự (2007) cho rằng việc giảm chi phí huy động vốn sẽ có khả năng đầu tƣ nhiều vào các tài sản sinh lời với có khoản vay có độ rủi ro cao. Từ đó có ảnh hƣởng đến khe hở tài trợ, quy mô của ngân hàng là yếu tố có tác động đến RRTK của NHTM. Theo Lý thuyết ƣa thích tính thanh khoản của Keynes (Keynes Liquidity Preference Theory) thì tiền là tài sản có tính thanh khoản cao nên việc nắm giữ nhiều tiền sẽ có lợi về thanh khoản nhƣng sẽ làm mất đi việc tạo ra lợi nhuận.
Nhƣng muốn có lợi nhuận thì phải giảm bớt tài sản thanh khoản để đầu tƣ vào các tài sản ít thanh khoản hơn và ngƣợc lại. Từ đó thì nghiên cứu của Berger (1995) các NHTM có lợi nhuận thấp sẽ tập trung đầu tƣ vào các danh mục có rủi ro cao để tăng lợi nhuận, vì thế mà ngân hàng hàng đó sẽ bị giảm tỷ trọng tài sản thanh khoản dẫn đến thanh khoản bị giảm. Theo Bunda & Desquilbet (2008) thì việc ngân hàng có lợi nhuận cao sẽ chú trọng trong việc an toàn và hạn chế tăng trƣởng tín dụng để tăng cƣờng tài sản thanh khoản. Dựa vào hai lý thuyết là hiệu ứng hấp thụ rủi ro (Risk Absorption Effect) và hiệu ứng kép giữa hiện tƣợng chèn lấn tiền gửi và hiện tƣợng cấu trúc vốn rủi ro 10 (Financial Fragility – Crowding Out Effect), theo nghiên cứu của Berger & Bouwman (2009) đã đƣa ra tác động từ khả năng tạo thanh khoản đến vốn của ngân hàng, tác động này là sự khác biệt giữa các ngân hàng lớn và ngân hàng nhỏ.
Đối với ngân hàng lớn thì có tác động cùng chiều và ngân hàng nhỏ là tác động ngƣợc chiều giữa vốn và khả năng tạo thanh khoản.