MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN TRONG DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP CHƢƠNG 2: QUY TRÌNH VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ỨNG DỤNG KINH TẾ TUẦN HOÀN TRONG DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TUẦN HOÀN TRONG DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI KẾT LUẬN 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG KINH TẾ TUẦN HOÀN TRONG DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP 1.Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng kinh tế tuần hoàn trong doanh nghiệp nông nghiệp KTTH đang trở thành một xu hƣớng, đƣợc thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, gồm cả khối liên minh châu Âu (đi đầu là Hà Lan, Đức và Đan Mạch), châu Mỹ (tiêu biểu là Canada và Mỹ) và cả châu Á (tiêu biểu là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore) (Trần Hồng Hà, 2019; Nguyễn Hoàng Nam và các cộng sự, 2019). Tiêu biểu, từ những năm 1970 Hà Lan đã ban hành ―thang Lansink‖, với việc bắt buộc ƣu tiên ngăn ngừa và hạn chế phát sinh chất thải, thúc đẩy tái sử dụng và tái chế, sau đó mới đến các biện pháp cuối cùng là đốt hoặc chôn lấp (Cramer, 2014). Đức có Luật về Quản lý chất thải và Chu trình khép kín năm 1996 (Schnurer, 2002; Friederich, 2011).
Năm 2017, Pháp ban hành lộ trình KTTH. Tại châu Mỹ, Hoa Kỳ áp dụng các cách tiếp cận dựa vào thị trƣờng đối với rác thải từ năm 1677, với rất nhiều điều luật liên quan đƣợc ban hành (Nguyễn Hoàng Nam, 2018). Ngoài ra, một số thành phố của Hoa Kỳ đã áp dụng lộ trình ―Không chất thải‖ (Regions of Climate Action, 2017). Tại châu Á, Nhật Bản khởi xƣớng với Luật Cơ bản cho việc thành lập một xã hội dựa trên tái chế từ năm 2002 (OECD, 2002).
Năm 2009, Trung Quốc cũng có Luật Xúc tiến KTTH (McDowall và các cộng sự, 2017). Từ năm 2007 Hàn Quốc đã ban hành Luật Tuần hoàn tài nguyên đối với thiết bị điện tử và phƣơng tiện điện tử và đặc biệt năm 2018 ban hành Luật khung về tuần hoàn tài nguyên. Malaysia ban hành Lộ trình ―Không chất thải nhựa dùng một lần‖ cho giai đoạn 2018-2030 (Kaza, 2018). Các đề tài nghiên cứu liên tục xuất hiện và đem lại hiệu quả cao cho ngành nông nghiệp.
Nhiều học giả xác định ba tác nhân chính để thúc đẩy thực hiện KTTH là chính phủ, doanh nghiệp và ngƣời nông dân (Heshmati, 2017; Pasaribu, 2006; Xia và Ruan, 2020). Theo Pasaribu (2006), mối quan hệ giữa các tác nhân có ảnh hƣởng đến sự phát triển KTTH trong nông nghiệp bao gồm: (1) chính sách của chính phủ 5 trong khuyến khích và thúc đẩy lĩnh vực nông nghiệp tuần hoàn và sự cộng tác của chính phủ và khu vực tƣ nhân; (2) quan hệ đối tác giữa doanh nghiệp và ngƣời dân địa phƣơng, phát triển các ngành công nghiệp dựa vào nông nghiệp, tổ chức và thu xếp vốn cho các chƣơng trình nông nghiệp; (3) ngƣời nông dân thực hiện chuyển đổi tƣ duy từ phụ thuộc vào tài nguyên sang phát triển nông nghiệp tuần hoàn dựa trên tri thức. Kumar và cộng sự (2021) xác định các rào cản của việc áp dụng KTTH trong chuỗi cung ứng nông nghiệp ở Ấn Độ bao gồm việc thiếu sự hỗ trợ và khuyến khích của chính phủ là những trở ngại đáng kể trong việc triển khai KTTH. Nghiên cứu của Centobelli và cộng sự (2021) phát triển một mô hình để khám phá các mối quan hệ giữa áp lực xã hội, cam kết môi trƣờng, khuyến khích kinh tế xanh, quản lý mối quan hệ chuỗi cung ứng, thiết kế chuỗi cung ứng bền vững và khả năng kinh tế tuần hoàn.
Thông qua dữ liệu thu thập từ 212 doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), nghiên cứu này áp dụng phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình phƣơng trình cấu trúc (SEM) để kiểm tra mô hình đã phát triển. Nghiên cứu này đã đƣa ra các nhân tố quan trọng tác động đến mức độ thực hiện KTTH trong sản xuất nông nghiệp nhƣ đào tạo về khả năng nghiên cứu, kết nối ngƣời tiêu dùng, giá cả và tƣơng xứng, ghi nhận ý kiến của khách hàng, cam kết thay đổi theo chiều hƣớng tích cực. Các phát hiện cho thấy xu hƣớng xã hội, nhu cầu của ngƣời tiêu dùng chiếm tỉ trọng lớn nhất. Charef và Lu (2021) xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng KTTH trong xây dựng.
Nhóm tác giả sử dụng phƣơng pháp phỏng vấn bán cấu trúc với 20 chuyên gia châu Âu trong lĩnh vực này. Tổng cộng có 64 yếu tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng KTTH đã đƣợc xác định. Sizhen và cộng sự (2005) xác định 4 nhóm với 20 yếu tố cản trở đến việc áp dụng công nghệ sạch hơn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc, bao gồm chính sách và thị trƣờng, tài chính và kinh tế, kỹ thuật và thông tin, quản lý và tổ chức. Xia và Ruan (2020) sử dụng phƣơng pháp Grey-DEMATEL, khá tƣơng đồng với phƣơng pháp phân tích ra quyết định đa tiêu chí (MDCM) để xác định các yếu tố gây trở ngại đối với việc thực hiện kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp ở Trung 6 Quốc, trong đó bao gồm các trở ngại đến từ phía chính phủ, doanh nghiệp và nông dân.
Về phía chính phủ, các trở ngại liên quan đến chính sách và quy định chƣa đầy đủ; cơ chế hành chính chƣa tạo điều kiện thuận lợi; thiếu các chính sách ƣu đãi cho khoa học công nghệ và hỗ trợ tài chính; cơ sở hạ tầng yếu kém; chính sách thúc đẩy công nghệ xanh trong sáng kiến ―Vành đai và Con đƣờng‖ còn chậm; cán bộ địa phƣơng có nhận thức về bảo vệ môi trƣờng còn thấp. Về phía doanh nghiệp, các trở ngại bao gồm chi phí sản xuất nông nghiệp còn cao, thiết kế sản phẩm và quy trình sản xuất lạc hậu, sáng tạo công nghệ của doanh nghiệp còn yếu, cơ chế tổ chức quản lý lạc hậu, sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, chƣa công nghiệp hoá, thiếu cân bằng giữa cung cầu thị trƣờng. Về phía nông dân, các trở ngại bao gồm nhận thức về vấn đề môi trƣờng còn thấp, thiếu kiến thức và kỹ năng chuyên môn, sử dụng kém hiệu quả các chính sách tài chính xanh. Sức ảnh hƣởng của kinh tế tuần hoàn ngày càng tăng lên trên toàn thế giới, giữa các nhà hoạch định chính sách và các học viên trong ngành.
Một số quốc gia đã thiết lập các kế hoạch chuyển đổi rời xa nền kinh tế tuyến tính (Chang và cộng sự, 2016). Ví dụ, ở Nhật Bản, hành trình hƣớng tới KTTH bắt đầu vào những năm 1990. Năm 2000, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật tiên phong về Khuyến khích sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và ―khuôn khổ pháp lý toàn diện để hƣớng tới một xã hội dựa trên tái chế‖ (Su et al., 2013) Boulding (1966) so sánh trái đất nhƣ tài sản vũ trụ trong không gian và đƣa ra kết luận một hệ thống kinh tế tuần hoàn là bắt buộc để duy trì sự tồn tại bền vững của con ngƣời trên Trái đất. Theo báo cáo của Stahel và Ready (1976), trong lĩnh vực chế tạo ô tô và xây dựng với ý tƣởng cốt lõi là việc kéo dài vòng đời của sản phẩm sẽ giúp tiết kiệm năng lƣợng và sức lao động của ngành này.
Từ đó, họ lập luận rằng, một nền kinh tế về vòng sản phẩm hoàn toàn khép kín, ƣu tiên tái sử dụng, ƣu tên sửa chữa và tái sản xuất hàng hóa hơn sản xuất hàng hóa mới sẽ có tác động tích cực trong tạo việc làm, cạnh tranh kinh tế, tiết kiệm tài nguyên môi trƣờng. Đây là một quan điểm mới mang tính đột phá ở thời điểm đó. 7 Nghiên cứu của Ellen MacArthur và cộng sự đã chứng minh tiềm năng của nền kinh tế vòng tròn - một mô hình làm giảm sự phụ thuộc vào nguồn lực và tăng sự thịnh vƣợng. Ngoài việc tạo ra các lợi ích kinh tế trực tiếp cho các doanh nghiệp và hộ gia đình, nền kinh tế vòng tròn còn đại diện cho một cơ hội đáng kể để giúp giải quyết các thách thức toàn cầu nhƣ khủng hoảng khí hậu, mất đa dạng sinh học và suy thoái đất đai.
Yu Hao và cộng sự (2020) đã thu thập 791 bảng câu hỏi trực tuyến từ những cƣ dân sống ở phía tây tỉnh Tứ Xuyên và thành phố Trùng Khánh. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng 4 yếu tố: Chuẩn mực chủ quan, Sẵn sàng hy sinh vì môi trƣờng, Lợi ích kinh tế đƣợc nhận và Positive Anticipated Emotion ( cảm giác thỏa mãn) có tác động đáng kể đến mức độ sẵn sàng tham gia vào nền kinh tế vòng tròn của ngƣời dân. Nghiên cứu của Rabia Chang và cộng sự (2021) đã chỉ ra tổng cộng có 64 yếu tố tác động đến việc áp dụng kinh tế tuần hoàn đã đƣợc xác định và xếp thành ba loại kết nối với nhau: các yếu tố tổ chức, chính trị và thủ tục, và kỹ thuật. Nghiên cứu của Piera Centobelli và cộng sự ( 2021) phát triển một mô hình để khám phá các mối quan hệ giữa áp lực xã hội, cam kết môi trƣờng, khuyến khích kinh tế xanh, quản lý mối quan hệ chuỗi cung ứng, thiết kế chuỗi cung ứng bền vững và khả năng kinh tế tuần hoàn.
Thông qua dữ liệu thu thập từ 212 doanh nghiệp vừa và nhỏ, nghiên cứu này áp dụng phân tích nhân tố khẳng định và mô hình phƣơng trình cấu trúc để kiểm tra mô hình đã phát triển. Các phát hiện cung cấp ba đóng góp chính : thứ nhất cam kết môi trƣờng và các khuyến khích kinh tế xanh có tác động tích cực đáng kể đến việc quản lý mối quan hệ chuỗi cung ứng và thiết kế chuỗi cung ứng bền vững. Thứ hai, vai trò của quản lý mối quan hệ chuỗi cung ứng và thiết kế chuỗi cung ứng bền vững để cải thiện khả năng kinh tế vòng tròn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thứ ba, tác động tích cực của áp lực xã hội đối với cam kết môi trƣờng và khuyến khích kinh tế xanh.
Theo Herve và cộng sự (2021), nền kinh tế tuần hoàn có những giới hạn, cơ sở lý thuyết không rõ ràng và việc thực hiện nó gặp phải những trở ngại về cơ cấu. 8 Nền kinh tế tuần hoàn dựa trên ( ideological agenda dominated ) một chƣơng trình ý thức hệ bị chi phối bởi hệ thống kinh tế và kỹ thuật, mang lại những đóng góp không chắc chắn cho tính bền vững và phi chính trị hóa tăng trƣởng bền vững.