Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương này sẽ trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, lược khảo tài liệu, những đóng góp của luận văn, kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Trong chương này sẽ trình bày một số lý luận về ý định sử dụng về dịch vụ, một số mô hình đánh giá về ý định.
Từ đó, sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu và đặt ra giả thuyết để xác định các yếu tố tác động đến ý định sử dụng quỹ bảo lãnh t n dụng tại CCGF. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày quy trình nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu, xây dựng và kiểm định các thang đo nhằm đo lường sự tác động các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận quỹ bảo lãnh tại CCGF. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Trình bày các kết quả phân tích các nhân tố có ảnh hưởng đến ý định sử dụng quỹ bảo lãnh t n dụng tại CCGF. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Từ kết quả nghiên cứu và thảo luận tác giả đưa ra một số kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ BLTD. t t , tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, khung lý thuyết, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa và cấu trúc của đề tài.
Qua đó hình thành các giả thuyết nghiên cứu để xác định các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ bảo lãnh t n dụng. 5 CHƢƠNG 2: CƠ S LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm 2.1 Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở Việt Nam, theo quy định tại iều 3, Nghị định số 56 2009 N -CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ quy định doanh nghiệp: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu ch ưu tiên). - Doanh nghiệp siêu nhỏ: Là doanh nghiệp có dưới 10 lao động. - Doanh nghiệp nhỏ: Trong nông, lâm nghiệp và thủy sản; trong công nghiệp và xây dựng: Là doanh nghiệp có vốn dưới 20 tỷ đồng và lượng lao động từ 10 đến 200 người; Trong thương mại và dịch vụ: Doanh nghiệp có dưới 10 tỷ tiền vốn và có từ 10 đến 50 lao động.
- Doanh nghiệp vừa: Trong nông, lâm nghiệp và thủy sản; trong công nghiệp và xây dựng: Là doanh nghiệp có vốn từ 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng và lượng lao động từ 200 đến 300 người; Trong thương mại và dịch vụ: Doanh nghiệp được xem là vừa khi có từ 10 tỷ đến 50 tỷ đồng tiền vốn và số lượng người lao động từ 50 người đến 100 người".2 Bảo lãnh và quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Bảo lãnh tín dụng ( TD) được xem là một sản phẩm tài ch nh đối với DNNVV có thể sử dụng như một phương thức thay thế cho tài sản thế chấp và nó được coi như một lời hứa của một người bảo lãnh phải trả một phần hoặc toàn phần giá trị khoản vay nếu người vay không trả được (Rauno, Miller & Mhlanga, 2013). Cũng theo Navajas (2001), mặc dù các đặc điểm và loại hình của BLTD khác nhau, nhưng đều có đặc điểm chung là chương trình đảm bảo việc trả nợ vay một phần hoặc toàn bộ để tạo động lực cho người cho vay đối với những nhóm mà không thể tiếp cận tín dụng theo cách thông thường. 6 Theo Levitsky (1997), quỹ TD đối với DNNVV là một hệ thống giúp các doanh nghiệp này vượt qua được những khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng; đồng thời giúp ngân hàng có thể cho DNNVV vay vốn mà vẫn hạn chế được các rủi ro liên quan. Navajas (2001) lại cho rằng Quỹ BLTD ra đời để bảo lãnh cho các đối tượng nhằm đảm bảo trả nợ vay một phần hoặc toàn bộ, thúc đẩy các đối tượng đi vay khi chưa đủ điều kiện cấp tín dụng.
Theo Riding, Madill & Haines (2006), hệ thống bảo lãnh tín dụng bao gồm ít nhất ba bên: Người đi vay, người cho vay và bảo lãnh: - Người vay: là khách hàng có yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện cam kết nghĩa vụ tài chính nhằm phục vụ các mối quan hệ kinh tế phát sinh, có thể là tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, hợp tác xã. trong và ngoài nước. Trong trường hợp này là các DNNVV đang tìm kiếm nguồn vốn, thường bị từ chối vì trong thị trường tín dụng với thông tin bất cân xứng. - Người cho vay - Bên nhận bảo lãnh: gồm tất cả các chủ thể của nền kinh tế, có thể là doanh nghiệp, tổ chức.Ở đây, các ngân hàng, tổ chức tín dụng thường không có đầy đủ thông tin về khách hàng của mình.
Vì thế, các khoản tín dụng thường chỉ được phân bổ cho các doanh nghiệp lớn gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nhỏ mặc dù các doanh nghiệp nhỏ đang hoạt động trong tình trạng tài chính lành mạnh. - Bên bảo lãnh thực hiện yêu cầu bảo lãnh của khách hàng và thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện (hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình). Thường bên bảo lãnh là những cá nhân, tổ chức có năng lực pháp luật, năng lực về tài chính và uy t n để đảm bảo cho nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ với bên nhận bảo lãnh. Với hoạt động BLTD cho DNNVV thì bên bảo lãnh thông thường là chính phủ hoặc hiệp hội thương mại được đại diện bởi các quỹ bảo lãnh quốc gia hoặc quỹ bảo lãnh địa phương.2 Một số mô hình lý thuyết nền tảng 2.1 Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) Hiện nay, đây là mô hình lý thuyết nền tảng phổ biến nhất nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng.
Mô hình lý thuyết TRA xác định yếu tố quyết định đến 7 hành vi thực sự của con người không phải là thái độ mà là dự định của người đó đối với hành vi sắp thực hiện Dự định lại chịu sự tác động của hai nhân tố chính là thái độ hướng tới hành vi và các nhân tố thuộc chủ quan của con người (như kinh nghiệm, phong cách sống, trình độ, tuổi tác, giới tính,…). Niềm tin đối với thuộc Thái độ hướng tính của sản phẩm tới hành vi Dự định Hành vi hành vi thực sự Niềm tin của nhóm Nhân tố tham khảo chủ quan Hình 2.1 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (Nguồn: Ajzen, 1991) Trên thực tế, điều mà người tiêu dùng quan tâm khi tiếp cận hay sử dụng một sản phẩm/dịch vụ đó là những giá trị và lợi ích mà sản phẩm đó mang lại cho họ. Tuy nhiên, mỗi lợi ích lại được đánh giá ở một mức độ quan trọng khác nhau. Do đó, nếu xác định được trọng số giá trị của từng thuộc tính ảnh hưởng tới người tiêu dùng, DN có thể dự đoán xu hướng hành vi của người.2 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) do Davis và các cộng sự phát triển vào năm 1989.
Dựa trên lý thuyết TRA, trong mô hình TAM, giữa thái độ, dự định và hành vi thực sự của người tiêu dùng có quan hệ nhân quả với nhau. TAM cho rằng, ý định sử dụng công nghệ mới sẽ dẫn đến hành vi sử dụng thực tế của khách hàng. Trong đó ý định lại chịu sự tác động bởi thái độ của cá nhân trong việc sử dụng công nghệ đó. Mối quan hệ này được thể hiện ở hình 2.2 sau: 8 Nhận thức về tính hữu dụng Các biến Thái độ Dự định Hành động môi trường Nhận thức về việc dễ sử dụng Hình 2.2 Mô hình chấp nhận công nghệ (Nguồn: Davis, 1989) Theo hình 2.2, thái độ của người sử dụng đối với công nghệ chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố, đó là cảm nhận về tính hữu dụng và cảm nhận về sự dễ dàng sử dụng công nghệ.
Ngoài ra, hai yếu tố này lại chịu sự tác động của các biến môi trường (như kinh nghiệm, kiến thức, trình độ đào tạo, quy trình công nghệ,…). ây có thể được xem là đặc trưng và cũng là điểm khác biệt chính của mô hình. Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò tự quyết định của người tiêu dùng trong quá trình sử dụng và tiêu dùng, nó được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu và được áp dụng thành công như một khung lý thuyết dự đoán ý định và hành vi mua.3 Mô hình lý thuyết về hành vi theo kế hoạch (The Theory of Planned Behavuor – TPB) Mô hình TPB khắc phục nhược điểm của mô hình TRA bằng cách thêm vào một biến nữa là nhận thức kiểm soát hành vi. Nó đại diện cho các nguồn lực cần thiết của một người để thực hiện một công việc bất kỳ.
Mô hình TP được xem như tối ưu hơn mô hình TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của một người trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu. 9 Thái độ Nhân tố Ý ỊNH HÀNH VI chủ quan Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2.3 Mô hình ý thuyết về hành vi theo kế hoạch (Nguồn: Ajzen, 1991) Ajzen (1991) định nghĩa lý thuyết về hành vi có kế hoạch với tiền đề rằng hành vi bất kỳ đòi hỏi một số kế hoạch nhất định và nó có thể được dự đoán bởi ý định áp dụng các hành vi đó. Kết quả của nghiên cứu này giải thích sự hình thành của ý định thông qua 3 yếu tố: thái độ của chủ thể đối với các hành vi, các nhân tố chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.4 Mô hình Lý thuyết phân rã hành vi có kế hoạch (DTPB) Mô hình DTP được Taylor & Todd (1995) phát triển dựa trên mô hình TPB của Ajzen bằng cách phân tách 3 nhân tố: thái độ, nhân tố chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi thành các biến cụ thể hơn, thể hiện ở hình 2.4 sau đây: 10 Nhận thức về tính hữu ích Nhận thức Thái độ về tính dễ sử dụng Khả năng tương th ch Ảnh hưởng của cá nhân Nhân tố Ý định chủ quan hành vi Hành vi Ảnh hưởng của phương tiện thông tin đại chúng Khả năng tự sử dụng Nhận thức kiểm soát hành vi iều kiện áp dụng Hình 2.