chương 1, tác giả đã trình bày về lý do lựa chọn thực hiện nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang”. Mục tiêu nghiên cứu đặt ra là xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến lượng vốn vay của các DNNVV tại ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hậu giang, từ đó đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao khả năng tiếp cận cho các DNNVV trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV tại mỗi quốc gia sẽ có những thước do khác nhau, mỗi giai đoạn kinh tế cũng sẽ khác nhau. Do đó, hiện nay dường như chưa tồn tại một khái niệm nào thống nhất về DNNVV.
Theo đó, tại mỗi quốc gia thường thông qua các tiêu chí như: Tổng nguồn vốn kinh doanh, số lượng lao động, tổng thu nhập để đưa ra nhận định về DNNVV. Tại Việt Nam, theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, DNNVV là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, được phân loại thành 3 cấp (siêu nhỏ, nhỏ, vừa) theo các tiêu chí về nguồn vốn, doanh thu và số lao động bình quân của DNNVV. Bảng 1 thể hiện về các tiêu chí phân loại DNNVV tại Việt Nam. Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, ở lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng cần có tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng, với số lao động không qua 10 người và nguồn doanh thu không quá 3 tỷ đồng.
Ở lĩnh vực thương mại dịch vụ tổng nguồn vốn cần không 3 quá tỷ đồng, với số lao động không quá 10 người và tổng doanh thu không quá 10 tỷ đồng. Đối với doanh nghiệp nhỏ, ở lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng cần có tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, với số lao động không qua 100 người và nguồn doanh thu không quá 50 tỷ đồng. Ở lĩnh vực thương mại dịch vụ tổng nguồn vốn cần không 50 quá tỷ đồng, với số lao động không quá 50 người và tổng doanh thu không quá 100 tỷ đồng. Đối với doanh nghiệp vừa, ở lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng cần có tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, với số lao động không qua 200 người và nguồn doanh thu không quá 200 tỷ đồng.
Ở lĩnh vực thương mại dịch vụ tổng nguồn vốn cần không 100 quá tỷ đồng, với số lao động không quá 100 người và tổng doanh thu không quá 300 tỷ đồng.1: Các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Lĩnh vực Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Số lao Số lao Số lao nguồn doanh nguồn doanh nguồn doanh động động động vốn thu vốn thu vốn thu Không Không Không Không Không Không Không Không Không Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản quá 3 tỷ quá 10 quá 3 tỷ quá 20 tỷ quá 100 quá 50 quá 100 quá 200 quá 200 và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng đồng người đồng đồng người tỷ đồng tỷ đồng người tỷ đồng Không Không Không Không Không Không Không Không Không Thương mại, dịch vụ quá 3 tỷ quá 10 quá 10 quá 50 tỷ quá 50 quá 100 quá 100 quá 100 quá 300 đồng người tỷ đồng đồng người tỷ đồng tỷ đồng người tỷ đồng Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP 8 2.2 Những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, các DNNVV thường có tính năng động và linh hoạt trước những sự thay đổi của thị trường, đặc biệt đối với các nhu cầu nhỏ lẻ, có tính địa phương. Vì vậy, các DNNVV có khả năng trong việc chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng sản xuất nhanh, tăng và giảm lượng lao động tại doanh nghiệp dễ dàng. Thứ hai, DNNVV thường là những tổ chức có cơ cấu và việc quản lý gọn nhẹ, các quyết định kinh doanh thường được thực hiện nhanh chóng. Cho nên, DNNVV có thể tiết kiệm được nhiều khoản chi phí quản lý và kịp thời nắm bắt được cơ hội kinh doanh.
Thứ ba, DNNVV thường có vốn đầu tư thấp, nhưng có thể mang về hiệu quả cao và thu hồi vốn nhanh. Điều này đã góp phần thu hút các nguồn lực của kinh tế đầu tư và thực hiện kinh doanh vào hình thức DNNVV. Thứ tư, các DNNVV thường bị hạn chế về nguồn vốn tự có để đầu tư, cho nên khi bổ sung vốn cho hoạt động mở rộng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ không đủ tài chính. Thứ năm, cơ sở vật chất cũng như các kỹ thuật công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh thường lạc hậu.
Hơn thế, nơi làm việc, trụ sở giao dịch và nhà xưởng của các DNNVV rất nhỏ hẹp. Thứ sáu, chủ cũng thường là người quản lý trực tiếp của DNNVV rất hạn chế các kiến thức về kinh doanh, do chưa được đào tạo. Chủ DNNVV quản lý doanh nghiệp dựa trên những kinh nghiệm thực tiễn được rút kết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.2 Một số vấn đề về tín dụng ngân hàng 2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là một hoạt động mang lại lợi ích rất lớn cho nền kinh tế của mỗi quốc gia, vì hoạt động tín dụng giúp ngân hàng có được nguồn thu nhập chính, giúp cho những cá nhân, tổ chức mang về thu nhập từ nguồn vốn nhàn rỗi chưa sử dụng đến, giúp những cá nhân, tổ chức thiếu nguồn tài chính bổ sung nguồn vốn có được tiền sử dụng vào mục đích mong muốn. Để nhắc đến khái niệm về tín dụng, từ này xuất phát từ chữ Latin “Creditium” có nghĩa là “tin tưởng” hoặc “tín nhiệm” cho nên có thể tạm hiểu tín dụng phải dựa trên niềm tin.
Hiện nay, tín dụng được hiểu theo nghĩa của từ tiếng Anh “Credit”. Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/6/2010 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, quy định “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các 9 nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Theo đó, tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Như vậy, có thể hiểu tín dụng ngân hàng là việc chuyển giao một giá trị tài sản từ ngân hàng sang cho đối tượng vay vốn trong một khoản thời gian nhất định, khi đến hạn đối tượng vay vốn có nghĩa vụ hoàn trả lại nợ gốc và lãi cho ngân hàng.2 Bản chất của tín dụng ngân hàng Bản chất cơ bản của tín dụng ngân hàng là sự luân chuyển nguồn vốn từ người cho vay sang người có nhu cầu vay.
Khi người có nguồn vốn nhàn rỗi có nhu cầu cho vay để kiếm thu nhập gặp được người có nhu cầu sử dụng vốn là điểm cân bằng. Tín dụng ngân hàng sẽ phải trải qua 3 giai đoạn như sau: - Giai đoạn 1: Phân phối vốn tín dụng. Đây là giai đoạn đầu tiên của tín dụng ngân hàng, khi nguồn vốn được ngân hàng cấp cho người đi vay. Như vậy, nguồn vốn đã được luân chuyển từ ngân hàng sang người đi vay vốn.
- Giai đoạn 2: Sử dụng nguồn vốn vay. Ở giai đoạn này, khi nhận được nguồn vốn vay từ ngân hàng, người đi vay được sử dụng nguồn vốn đó vào mục đích của họ. Tuy nhiên, người đi vay không thể có toàn quyền sử dụng nguồn vốn đó, mà họ chỉ được chuyển quyền sử dụng nguồn vốn trong một khoản thời gian nhất định. - Giai đoạn 3: Hoàn trả nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
Khi đến thời hạn thỏa thuận giữa ngân hàng và người đi vay, người đi vay phải hoàn trả vốn vay và lãi suất. Kết thúc quá trình luân chuyển của tín dụng ngân hàng.3 Phân loại tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng được phân chia thành những loại sau: * Căn cứ vào thời hạn tín dụng Mỗi quốc gia, quy định thời hạn tương ứng với các loại hình tín dụng có thể khác nhau. Ở Việt Nam, thời hạn tín dụng được phân loại như sau: - Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 năm. Tín dụng ngắn hạn sử dụng chủ yếu để bù đắp nhu cầu vốn lưu động tạm thời thiếu hụt của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 năm và tối đa 05 năm. - Tín dụng dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 năm. Tín dụng trung và dài hạn nhằm bù đắp thiếu hụt vốn trung dài hạn phục vụ mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng… 10 * Căn cứ vào mục đích tín dụng - Tín dụng sản xuất kinh doanh: Ngân hàng cấp tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế trên mọi lĩnh vực: Công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, giao thông vận tải, bưu điện, dịch vụ… - Tín dụng tiêu dùng: Ngân hàng cấp tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân như mua sắm các vật dụng đắt tiền, cho vay để trang trải các chi phí của đời sống, cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng… * Căn cứ vào bảo đảm của tín dụng - Tín dụng không bảo đảm: Ngân hàng cấp tín dụng dựa trên cơ sở uy tín, tín nhiệm của bản thân khách hàng vay. Người đi vay không cần bất cứ một sự bảo đảm nào bằng tài sản hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba.
Như vậy, người đi vay đã bảo đảm cho khoản tín dụng bằng chính uy tín của họ. - Tín dụng có bảo đảm: Ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở phải có sự bảo đảm bằng tài sản của người đi vay hoặc sự bảo lãnh của chủ thể thứ ba. Tài sản bảo đảm hoặc chủ thể bảo lãnh trong quan hệ tín dụng chính là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng.