chương 1, luận văn đã trình bày tổng quan về lý do chọn đề tài, xác định được mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu để thực hiện, những đóng góp của đề tài nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Đây là phần định hướng quan trọng, có tác động trực tiếp đến những nội dung liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu. Đồng thời, chương này làm tiền đề để thực hiện các quá trình nghiên cứu tiếp theo. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHẢO LƯỢC NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết về ngân hàng thương mại 2. Khái niệm ngân hàng thương mại Phan Thị Thu Hà (2013) và Nguyễn Văn Tiến (2015) cho rằng ngân hàng thương mại (NHTM) là một định chế trung gian tài chính trên thị trường, làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế, cụ thể hơn thì NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền gửi từ các chủ thể trong nền kinh tế, từ nguồn vốn huy động được, NHTM sẽ thực hiện các nghiệp vụ cho vay đối với các chủ thể cần vốn và đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời khác, ngoài ra NHTM còn cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế. Như vậy, NHTM là một loại hình tổ chức tài chính có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Trước hết, thông qua vai trò trung gian tài chính, NHTM thực hiện việc chuyển các khoản tiết kiệm từ các chủ thể thừa vốn thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các tác nhân khác có nhu cầu vốn để sử dụng đầu tư.
Đồng thời, NHTM là nơi cấp các tín dụng cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất. Ngoài ra, NHTM còn là thành viên quan trọng của thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền trung ương và địa phương phát hành để tài trợ cho các chương trình công cộng. Đối với các doanh nghiệp, NHTM cũng là một trong những tổ chức cung cấp vốn lưu động, vốn ngắn hạn và dài hạn. Trong đó, ngân hàng thương mại có các vai trò đặc thù sau: - Vai trò trung gian thanh toán: NHTM thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa, dịch vụ theo các phương thức như phát hành và bù trừ séc, hình thức thanh toán điện tử.
- Vai trò bảo lãnh: NHTM cam kết trả nợ cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không khả năng thanh toán. - Vai trò đại lý: Các NHTM thay mặt khách hàng thực hiện các nghiệp vụ như quản lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán, chuộc lại chứng khoán. - Vai trò thực hiện chính sách: Các NHTM còn là một kênh quan trọng để thực hiện chính sách vĩ mô của chính phủ, tham gia vào việc điều tiết sự tăng 10 trưởng kinh tế vào đảm bảo các mục tiêu xã hội. Khái niệm tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng tỷ suất sinh lời (hay hiệu quả hoạt động) của ngân hàng được thể hiện ở hai phương diện: Phương diện hiệu quả kinh tế, TSSL phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp cũng như của xã hội để gặt hái được những kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất; Phương diện hiệu quả xã hội, TSSL phản ảnh những lợi ích xã hội đạt được trong quá trình của hoạt động kinh doanh.
Trong hai phương diện này thì khía cạnh hiệu quả kinh tế có tính quyết định hơn. TSSL của ngân hàng là một tỷ số được dùng để đo lường khả năng sinh lợi, thể hiện mối tương quan giữa lượng thu nhập đạt được với các nguồn lực sử dụng mà tổ chức bỏ ra. Trong đó, kết quả tử số là các biến lợi nhuận còn mẫu số là các nguồn hình thành nên lợi nhuận. TSSL được tính bằng tỷ lệ phần trăm, có thể đánh giá đúng đắn kết quả kinh doanh của NH hơn so với các kết quả lợi nhuận tuyệt đối.
Theo Phan Thị Thu Hà (2013) thì TSSL là chỉ thước đo đánh giá thành quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thước đo để so sánh giữa kết quả đạt được và rủi ro giữa ngân hàng với các tổ chức tín dụng khác và khả năng thành công của ngân hàng. TSSL giúp ban lãnh đạo ngân hàng có thể đo lường hiệu quả quản trị đối với sự biến động của tình hình kinh tế, là động lực thúc đẩy nhà điều hành trong việc hoạch định các chiến lược, quyết định tài trợ, đầu tư, kinh doanh theo từng giai đoạn nhất định. TSSL cũng thể hiện sức mạnh tài chính của ngân hàng được thể hiện thông qua các chỉ số trên báo cáo hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Rose (2002) cho rằng, việc đo lường giá trị tỷ suất sinh lời của NH cũng được dựa trên các nền tảng lý thuyết về đánh giá HQHĐKD của doanh nghiệp và xem xét thêm những tính chất đặc thù của ngân hàng.
Theo nghĩa hẹp, hiệu quả HĐKD của ngân hàng chính là khả năng tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng cùng với sự đảm bảo an toàn cho các hoạt động của tổ chức. Theo nghĩa rộng HQHĐKD không chỉ đề cập đến lợi nhuận mà cần phải xem xét tính hợp lý của lợi nhuận đạt được từ cấu trúc tài sản nợ và tài sản, cũng như xu hướng tăng trưởng lợi nhuận ổn 11 định. Có nhiều nguồn lực của tổ chức như: cơ sở vật chất, lao động, nguồn tài chính cho các hoạt động chủ yếu của NH bao gồm: cho vay và đầu tư, đây là những căn cứ quan trọng để xác định mức độ hiệu quả và yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng. Từ các khái niệm trên cho thấy tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại được xem như là khả năng kết hợp tối ưu để tối đa hoá giá trị đầu ra dựa trên việc tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào bao gồm: nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất và các yếu tố khác trong các hoạt động trung gian tài chính và sản xuất kinh doanh của bản thân ngân hàng như huy động vốn, cho vay, đầu tư và dịch vụ.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM được đo lường thông qua việc so sánh với đường biên sản xuất của nó. Tóm lại, việc đánh giá tỷ suất sinh lời của các NHTM khá đa dạng, tùy theo những mục đích nghiên cứu khác nhau mà tỷ suất sinh lời sẽ được xét trên những khía cạnh khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, hiệu quả HĐKD của ngân hàng sẽ được đo lường dựa trên khả năng sinh lời (thu nhập) của các NHTM trong điều kiện đảm bảo hoạt động được ổn định, đồng thời hạn chế rủi ro có thể xảy ra. Các chỉ tiêu đo lường tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại Hiện nay, việc đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại có nhiều chỉ tiêu được sử dụng, tuy nhiên, theo Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng chỉ tiêu về khả năng sinh lời thường được sử dụng để đo lường tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại.
Những kết quả về khả năng sinh lời được xem là chỉ tiêu có khả năng phản ánh tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tiềm năng tạo ra lợi nhuận, đồng thời chỉ tiêu cũng xem xét đến các yếu tố rủi ro đối với NHTM, do vậy thông qua khả năng sinh lời mà NHTM có thể đánh giá tỷ suất sinh lời của tổ chức một cách bao quát hơn. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng hai chỉ tiêu phổ biến để đo lường khả năng sinh lời là Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) và Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) để thực hiện nghiên cứu. 12 ROA – Return On Assets: Theo Ongore (2013), ROA là một chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của một ngân hàng. Theo Khrawish (2011) ROA là một tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản.
Nó đánh giá khả năng quản lý của các nhà quản trị ngân hàng để tạo thu nhập bằng cách sử dụng tài sản của ngân hàng theo ý của họ. Nói cách khác, ROA cho thấy nguồn lực của ngân hàng được sử dụng để tạo ra thu nhập. Nó còn cho thấy hiệu quả của việc quản lý một ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập ròng từ tất cả các nguồn lực của tổ chức. ROA (Return on Assets) là một trong những chỉ số quan trọng được sử dụng để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng.
Chỉ số này tính toán tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản của ngân hàng, giúp đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận. ROA không chỉ được sử dụng rộng rãi trong ngành ngân hàng mà còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực tài chính khác như đầu tư chứng khoán. Một trong những lý do quan trọng khiến ROA trở thành chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng là tính toán đơn giản và dễ hiểu. Chỉ cần chia lợi nhuận của ngân hàng cho tổng tài sản, ROA sẽ cung cấp cho chúng ta một con số cho thấy ngân hàng đang hoạt động hiệu quả hay không.
Vì vậy, ROA không chỉ dễ dàng theo dõi mà còn giúp người quản lý đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng một cách nhanh chóng và chính xác. Ngoài ra, ROA cũng cho thấy sức mạnh tài chính của ngân hàng. Nếu ROA của ngân hàng cao, điều này cho thấy ngân hàng có khả năng tạo ra lợi nhuận cao từ các khoản đầu tư và hoạt động tài chính. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư hoặc khách hàng mới.
Wen (2010) cho biết ROA cao hơn cho thấy công ty có hiệu quả hơn trong việc sử dụng các nguồn lực của nó. ROA được xác định bằng cách lấy phần trăm của kết quả của tổng lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản bình quân của doanh nghiệp, kết quả này đánh giá mỗi đồng tài sản của ngân hàng có khả năng sinh lời bao nhiêu, qua đó thể hiện được khả năng ngân hàng đã sử dụng tài sản của mình để có thể tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận. Tỷ số ROA càng cao thì thể hiện được khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao.