chương 1 tìm ra khoảng trống nghiên cứu của luận án. Hệ thống Ngân hàng thương mại Hệ thống NHTM giúp điều tiết nền kinh tế thông qua việc điều hòa cung cầu về nguồn tài chính giữa các chủ thể trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Lĩnh vực hoạt động của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ, thực hiện vai trò trung gian cung ứng tiền - nhận tiền gửi nhàn rỗi của chủ thể kinh tế này rồi cho chủ thể kinh tế khác vay khi cần tiền, và thực hiện dịch vụ thanh toán. Ở cấp độ vĩ mô, hệ thống NHTM có 9 vai trò điều tiết chính sách tiền tệ, còn ở cấp độ vi mô, đối với các cá nhân và doanh nghiệp, hệ thống NHTM là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu (Koch & Mac Donald, 2000).
Việc mất thanh khoản của ngân hàng do đó sẽ ảnh hưởng nhiều đến các ngành nghề khác. Ngoài ra, hệ thống NHTM có tính chất liên kết và nhạy cảm. Việc mất thanh khoản tại một ngân hàng ảnh hưởng đến nền kinh tế và có thể kéo theo việc mất thanh khoản tại nhiều ngân hàng khác (Kaufman, 1996), gây ra khủng hoảng hệ thống tài chính. Vì vậy, NHTM có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế và việc nghiên cứu an toàn tài chính ngân hàng trong đó có an toàn vốn có nhiều ý nghĩa thực tiễn.
Khái niệm và vai trò của các Ngân hàng thương mại Có rất nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng, tùy theo cách định nghĩa theo luật định của từng quốc gia. Nhưng tựu chung, các khái niệm đều đi đến vai trò cơ bản của ngân hàng thương mại khiến NHTM được phân biệt với các trung gian tài chính khác, đó là vai trò nhận tiền gửi, để sử dụng cho các nghiệp vụ và hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng (cho vay, thanh toán, kinh doanh ngoại tệ.) Tại Việt Nam, theo Luật Tổ chức tín dụng 2010, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật TCTD 2010 cũng quy định các hoạt động ngân hàng bao gồm: “nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” NHTM có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, thể hiện ở những khía cạnh sau: - NHTM giữ vai trò cấp vốn cho nền kinh tế, với nền kinh tế mà các thị trường cung ứng vốn chưa đầy đủ như Việt Nam thì NHTM giữ vai trò chủ yếu trong việc điều tiết vốn. NHTM giữ vai trò trung gian, huy động tiền nhàn rỗi từ các cá nhân tổ chức kinh tế, để cung cấp vốn cho những đơn vị cần để sản xuất kinh doanh thông qua hoạt động cấp tín dụng - NHTM giữ vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.
Nhờ có NHTM mà doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư nâng cao năng lực sản xuất, cũng như nâng cao thanh khoản nhờ nguồn vốn lưu động, từ đó có thể phát triển sản xuất kinh doanh tốt hơn. - NHTM là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Thông qua NHNN, Nhà nước cấp vốn cho NHTM, điều tiết hoạt động kinh doanh tiền tệ của các NHTM từ đó điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia. Các NHTM sẽ dẫn dắt thị trường thông qua 10 hoạt động cấp tín dụng, hoạt động thanh toán lưu thông tiền tệ, từ đó tác động đến khối lượng tiền tệ lưu thông trên thị trường.
Đồng thời NHTM cũng điều tiết nguồn vốn huy động được đến những nơi cần chúng một cách hiệu quả. - NHTM giữ vai trò cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế, thông qua các hoạt động thanh toán quốc tế, nghiệp vụ ngoại hối,. một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến xuất nhập khẩu. Phân loại Ngân hàng thương mại Việc phân loại NHTM chủ yếu dựa vào hình thức sở hữu bao gồm: - Ngân hàng thương mại Nhà nước: là những ngân hàng có Nhà nước chiểm cổ phần chi phối (tại các ngân hàng này ở Việt Nam, Nhà nước nắm giữ tối thiểu 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.) - Ngân hàng Thương mại cổ phần: được thành lập dưới hình thức cổ phần và cá nhân hay pháp nhân chỉ sở hữu số cổ phần nhất định theo luật định.
- Ngân hàng liên doanh : được thành lập bằng vốn của một NHTM nội địa với một NHTM nước ngoài có trụ sở tại nước sở tại, hoạt động theo luật pháp nước sở tại - Chi nhánh ngân hàng nước ngoài : là chi nhánh được NH nước ngoài mở tại nước ngoài sau khi được nước sở tại cấp phép hoạt động theo luật pháp nước sở tại - NHTM 100% vốn nước ngoài : là NHTM được thành lập tại nước sở tại với 100% vốn sở hữu của NH nước ngoài 1. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng (1) Nghiệp vụ nhân tiền gửi Đây là nghiệp vụ cơ bản của NHTM, theo đó các ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi của khách hàng (là cá nhân hay tổ chức) dưới các hình thức tiền gửi có hoặc không có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ hoặc các hình thức khác. Ngân hàng sẽ hoàn trả gốc và lãi tiền gửi cho khách hàng vào cuối kỳ hoặc khi khách hàng có nhu cầu. Đây cũng là nghiệp vụ giúp phân biệt ngân hàng với các ĐCTC khác.
(2) Nghiệp vụ tín dụng Đây là nghiệp vụ đặc trưng của ngân hàng, đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Đây cũng là hoạt động quan trọng của ngân hàng thể hiện vai trò điều tiết vốn cho nền kinh tế, cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng. Đặc biệt là đối với nền kinh tế Việt Nam, tín dụng ngân hàng chiếm vai trò chủ đạo trong các hình thức cấp vốn cho các doanh nghiệp, khi mà các thị trường vốn và TTCK vẫn còn đang phát triển. Các hình thức cho vay có thể phân loại theo : 11 - Mục đích sử dụng vốn : cho vay SXKD, cho vay tiêu dùng, cho vay mua BĐS.
- Thời hạn cho vay: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn - TSBĐ : cho vay có TSBĐ, cho vay không có TSBĐ (3) Nghiệp vụ trung gian thanh toán Đây là nghiệp vụ mà thời gian gần đây mức độ đóng góp vào doanh thu ngân hàng ngày càng tăng, đặc biệt là khi việc thanh toán không sử dụng tiền mặt ngày càng trở nên phổ biến. Đối với nghiệp vụ này, ngân hàng cung cấp các dịch vụ: chuyển tiền (nội địa và quốc tế), thu chi hộ cho khác hàng (chi lương, thanh toán hóa đơn, thu ngân sách, thu học phí/viện phí, thanh toán thương mại.) (4) Nghiệp vụ đầu tư NHTM cũng tham gia đầu tư vào TTCK, thị trường ngoại hối, nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ việc kinh doanh chứng khoán hay kinh doanh ngoại tệ. Ngoài ra, ngân hàng cũng thực hiện nghiệp vụ đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp. Tổng quan về tỷ lệ an toàn vốn Năm 1988, sau vụ hàng loạt các ngân hàng sụp đổ, Ủy ban BASEL gồm một nhóm các NHTƯ và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) đã họp nhau lại để ra những quyết sách đối với hệ thống ngân hàng trong khối nhằm có những biện pháp ngăn chặn từ sớm nguy cơ khủng hoảng kinh tế xuất phát từ hệ thống NHTM.
Và Hiệp ước BASEL ra đời và được hoàn thiện dần theo những thay đổi của nền tài chính thời cuộc, với những quy định chặt chẽ về việc tính toán CAR, duy trì mức CAR tối thiểu, bên cạnh đó là việc quản trị rủi ro, thanh khoản, minh bạch thông tin tại các NH. Khái niệm và cách đo lường theo BASEL CAR là một trụ cột quan trọng trong BASEL. Với mục tiêu xác định được biện pháp xây dựng hệ thống ngân hàng lành mạnh, có thể đứng trước rủi ro, BASEL I (1996) thực hiện việc phân loại vốn (gồm vốn cấp 1 là nguồn vốn CSH và vốn cấp 2 là nguồn vốn bổ sung) và xác định tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu mà các NH cần phải duy trì là 8%. BASEL II ra đời 2003 vẫn tiếp tục giữ nguyên khái niệm về vốn cũng như quy định về CAR tối thiểu là 8%, tuy nhiên đã xây dựng chi tiết hơn hệ số rủi ro của tài sản, đưa ra những phương thức đo lường các loại rủi ro mà BASEL I đã bỏ sót như rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 đã cho thấy lỗ hổng của BASEL II, BASEL III được xây dựng với những quy định chặt chẽ hơn: Mặc dù CAR vẫn giữ nguyên >=8% thì chất lượng vốn phải được nâng cao, trong đó 12 vốn cấp 1 chiếm tối thiểu 6% VCSH – tối thiểu 4.5% so với Tổng TS điều chỉnh theo rủi ro RWA, đồng thời vốn đệm dự phòng (conversation butter) – phần vốn bù đắp tổn thất, chiếm khoảng 2.5% vốn CSH và vốn dự phòng tổn thất hệ thống (countercyclical butter) để dự phòng cho việc tăng trưởng nóng tín dụng và thưởng được quy định bởi hệ thống tài chính của từng nước trong khoảng 0 đến 2.5% so với RWA. BASEL I Ra đời trong hòan cảnh BCBS đang nghiên cứu về các biện pháp củng cố ổn định của hệ thống ngân hàng sau khủng hoảng nên BASEL I chủ yếu tập trung vào biện pháp xây dựng hệ thống ngân hàng lành mạnh đứng vững trước rủi ro, bằng cách phân loại vốn ngân hàng và hướng tới xây dựng một tỷ lệ vốn được gọi là an toàn. BASEL I lần đầu được ban hành năm 1988 quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% dựa trên việc tính toán vốn trên tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro. Tháng 11 năm 1991, BASEL I được sửa đổi lần đầu để định nghĩa rõ hơn dự phòng rủi ro chung.
Tháng 04 năm 1995, BASEL I tiếp tục được sửa đổi nhằm nhận thức về các rủi ro tiềm ẩn đối với các khoản mục ngoài bảng CĐKT. Đến tháng 01 năm 1996, BSBC ban hành sửa đổi liên quan đến việc nhận biết các loại rủi ro cũng như bổ sung khái niệm vốn cấp 3.