đặt vấn đề kiểm tra. QLT hướng về khách hàng cần coi trọng những tiêu chuẩn đánh giá của người nộp thuế. Mặt khác, sự kết hợp hệ thống kiểm tra đầu ra với hệ thống kiểm tra đầu vào và quá trình QLT là cần thiết để có một hệ thống kiểm tra có hiệu quả là xu hướng của nhiều CQT hiện nay. Các yếu tố thuộc môi trường của cơ quan quản lý thuế QLT đối với người nộp thuế hoạt động trong một môi trường khá phức tạp.
Các yếu tố môi trường đem đến không ít cơ hội cũng như thách thức cho QLT bao gồm: DN nộp thuế: NNT nộp thuế cần được xem là một yếu tố môi trường quan trọng nhất mà CQT phải quan hệ. Tuân thủ thuế và yếu tố tác động đến tuân thủ thuế của người nộp thuế là những ảnh hưởng trực tiếp đến QLT. Các ngân hàng và kho bạc: là những tổ chức thu thuế thay CQT, làm giảm gánh nặng quản lý hành chính thuế cho CQT. Thậm chí, ở một số quốc gia ngân hàng còn làm nhiệm vụ xử lý bản khai thuế.
Môi trường chính trị luật pháp: Các quy định của hiến pháp về QLT như (1) phân chia và phân công quyền lực QLT ở các cấp như cấp trung ương, cấp vùng, cấp địa phương; (2) phân công, phân chia quyền lực QLT giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; (3) quyền cơ bản của công dân. Môi trường kinh tế: Xu hướng kinh tế như tăng trưởng GDP, lãi suất, tỷ giá, thất nghiệp, chi tiêu chính phủ ảnh hưởng đến số thuế thực thu. Kinh tế thị trường sẽ ảnh hưởng đến khả năng của CQT trong việc giải quyết khối lượng và tính phức tạp của các giao dịch thương mại quốc tế. Tỷ lệ lạm phát có thể ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ của người nộp thuế và các mức ấn định tỷ lệ phạt do nộp chậm thuế.
Sự phát triển nhanh chóng của giao dịch thì trường sẽ vượt quá khả năng kiểm soát của CQT. Môi trường văn hoá, xã hội: Văn hoá thuế cụ thể là những giá trị, quan điểm về tuân thủ nghĩa vụ thuế được chia sẻ trong cộng đồng dân cư nói chung và cộng đồng 13 NNT nói riêng là yếu tố cơ bản tác động đến QLT. Mặt khác, cơ sở hạ tầng xã hội phát triển với trình độ văn hoá dân cư được cải thiện cũng tạo ra nhiều cơ hội. Sự hỗ trợ của các cơ quan truyền thông, các tổ chức văn hoá là một trong những động lực cần thiết cho sự thành công của QLT.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế Khoa học về hành vi tuân thủ thuế là một lĩnh vực nghiên cứu mới trong vài thập nhiên gần đây trên thế giới. Trong ba thập niên gần đây nhất, có vô số các công trình khoa học nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế. Khoảng đầu những năm 1970, từ những mô hình phân tích kinh tế đơn giản và sau đó đã mở rộng nhanh chóng đến lĩnh vực phân tích hành vi với những giải thích ngày càng phức tạp. Yếu tố kinh tế Yếu tố lãi suất: Vấn đề khác thuộc phân tích kinh tế hành vi tuân thủ thuế là phân tích giá trị tiền tệ của tuân thủ.
Tuân thủ hay trì hoãn hoặc trốn thuế sẽ phụ thuộc vào lãi suất hay giá trị tiền tệ tại thời điểm thanh toán thuế so với thời điểm trì hoãn thuế trong tương lai. Do vậy, yếu tố lãi suất phải thường xuyên được xem xét trong quyết định tuân thủ của người nộp thuế. Lãi suất thị trường và lãi suất ngân hàng là yếu tố tác động đến quyết định tuân thủ, trì hoãn hay không tuân thủ thuế. Trong trường hợp lãi suất tăng, một NNT có tinh thần và đạo đức thuế không tốt sẽ có khả năng trì hoãn việc nộp thuế; hoặc tuân thủ nhưng không tự nguyện; hoặc có khả năng trốn thuế hay tránh thuế.
Vì vậy, lãi suất thị trường thường được các nhà phân tích theo cách tiếp cận kinh tế lấy làm cơ sở cho việc thiết lập các hình phạt đối với NNT khi họ không tuân thủ (Nguyễn Thị Lệ Thúy, 2009). Yếu tố lạm phát: Lạm phát ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của người nộp thuế khi nó tác động vào mức sinh lợi từ hoạt động SXKD. Lạm phát quá cao sẽ cản trở hành vi tuân thủ thuế. Lạm phát ổn định ở mức hợp lý sẽ kích thích SXKD và tác động đến tuân thủ thuế của người nộp thuế thông qua hiệu ứng thu nhập (Nguyễn Thị Lệ Thúy, 2009).
Ảnh hưởng của hội nhập quốc tế: Quốc tế hoá nền kinh tế thế giới là một trong những xu hướng vận động chủ yếu trong đời sống kinh tế quốc tế hiện nay. Xu thế này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của người nộp thuế, tạo ra vô số thuận lợi và không ít khó khăn, thách thức, làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động SXKD và từ đó ảnh 14 hưởng đến tuân thủ thuế của người nộp thuế. Các nghiên cứu cho thấy hầu hết mọi người đều sẵn sàng nộp thuế nếu thấy người khác cũng nộp thuế. Chính sách của Chính phủ và hiệu quả của chi tiêu công: Tuân thủ thuế cũng tăng lên khi các cá nhân cảm nhận được một số lợi ích từ những hàng hóa công được đầu tư bằng tiền thuế của họ.
Nhận thức của người nộp thuế về tính hiệu quả của các khoản chi tiêu công sẽ tác động đến tuân thủ thuế. Tham nhũng, thất thoát ngân sách, đầu tư công phi hiệu quả cũng sẽ là những yếu tố cản trở hành vi tuân thủ tích cực của người nộp thuế. Chi phí tuân thủ thuế: Chi phí tuân thủ thuế tác động đến tuân thủ thông qua hiệu ứng thu nhập nghĩa là chi phí tuân thủ tăng sẽ cản trở quyết định tuân thủ thuế và ngược lại. Chi phí tuân thủ thuế theo nghĩa hẹp gồm chi phí tiền và thời gian để tuân thủ các nghĩa vụ về thuế.
Chi phí này phụ thuộc vào hệ thống thuế và sự khác nhau giữa các ngành, các hình thức kinh doanh khác nhau, người nộp thuế có đặc điểm khác nhau. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, chi phí tuân thủ còn bao gồm các chi phí khác là hậu quả của trốn thuế. Sự không tuân thủ của người nộp thuế khác có thể dẫn đến nhiều bất lợi trong cạnh tranh đối với người nộp thuế tuân thủ tốt (Nguyễn Thị Lệ Thúy, 2009). Gánh nặng về tài chính (thiếu nguồn lực tài chính): Christina M.
Ritsema (2003) nghiên cứu có kết luận rằng: Một phần lớn trong những người nợ thuế là do thiếu nguồn lực tài chính và thiếu nguồn lực tài chính cũng là lý do không tuân thủ kê khai thuế đầy đủ. Rõ ràng, có mối liên hệ giữa số thuế nợ và hành vi tuân thủ. Ví dụ, nếu NNT có nghĩa vụ thuế có thể dễ dàng thanh toán thì họ sẽ sẵn sàng tuân thủ. Tuy nhiên, nếu nghĩa vụ lớn – đe dọa sự sống còn của người nộp thuế - người chủ có thể tránh phải thanh toán toàn bộ hoặc tìm cách điều chỉnh số liệu báo cáo để làm giảm nghĩa vụ thuế.
Yếu tố liên quan đến hệ thống thuế Thuế suất Thuế suất là một trong những yếu tố cơ bản trong mỗi sắc thuế tác động đến tuân thủ thuế. Có sự khác biệt về mức độ tuân thủ giữa các mức thuế suất khác nhau của một sắc thuế. Thuế suất càng cao dẫn đến việc tuân thủ thuế càng thấp. Điều này được thể hiện thu nhập không được báo cáo thuế tăng lên khi thuế suất tăng lên, với cách tiếp cận mới trong việc đo lường mức độ ảnh hưởng của thuế suất đến việc trốn thuế 15 đã có kết luận rằng: khoảng cách trốn thuế có mối tương quan rất lớn với thuế suất.
Khoản thuế thất thu càng lớn đối với những sản phẩm có thuế suất cao hơn. Sự phức tạp của hệ thống thuế Hệ thống chính sách thuế, gồm các sắc thuế được ban hành dưới các hình thức luật, pháp lệnh. Mỗi sắc thuế có vai trò điều tiết riêng trong nền kinh tế, song chúng có mối quan hệ rất mật thiết và tác động lẫn nhau trong quá trình phát huy tác dụng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. Chính sách thuế là yếu tố quan trọng trong phân tích tuân thủ thuế nhìn từ góc độ kinh tế và cả góc độ tâm lý xã hội.
Chính sách thuế ổn định, rõ ràng, minh bạch và công bằng là những tiền đề để đạt được tuân thủ cao. Việc tuân thủ tốt thường bắt nguồn từ chính sách thuế rõ ràng. Luật phức tạp và không rõ ràng sẽ làm tăng cơ hội cho NNT có những hành vi lợi dụng kẽ hở của luật. Khi chính sách rõ ràng thì CQT có nhiều cách để thực hiện quy trình quản lý công bằng.
Khi NNT nhận thấy luật không phù hợp với thực tế thì hiển nhiên các hành vi không tuân thủ sẽ ngày càng tăng thêm. Sự khuyến khích tuân thủ thuế (tuyên dương, điển hình.) Các biện pháp khuyến khích: Một số biện pháp khuyến khích NNT có thể có tác động tích cực đến hành vi tuân thủ (có nghĩa là NNT trở nên tuân thủ hơn), mặc dù điều này cần phải được tìm hiểu hơn nữa (Centre for Tax policy and Administration, 2004). Cách tiếp cận kinh tế mở rộng cho rằng: tuân thủ thuế có thể cải thiện với những phần thưởng bằng tiền đối với người nộp thuế. Một số biện pháp khuyến khích NNT có thể tác động tích cực đến hành vi tuân thủ thuế.
Sự động viên, khuyến khích đối với tuân thủ tốt như tuyên dương DN, công nhận hình ảnh vị thế của người nộp thuế, các phần thưởng khuyến khích bằng tinh thần và bằng vật chất tác động có hiệu ứng lan toả nhằm nâng cao tinh thần thuế của người nộp thuế. Các biện pháp ngăn cản (thanh tra, cưỡng chế, phạt) Những cuộc điều tra về tác động của những biện pháp ngăn ngừa như phạt tài chính và đe dọa khởi tố cho thấy đây là các biện pháp khống chế về thời gian đối với hành vi tuân thủ của NNT. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy rằng những người tuân thủ muốn những người không tuân thủ phải bị trừng phạt. Mức độ ngăn chặn được dựa trên khái niệm cho rằng nguy cơ phát hiện việc gian lận và các biện pháp trừng phạt sẽ làm tăng mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế.
16 Theo cách tiếp cận này, người nộp thuế đóng thuế nhằm thoát khỏi sự sợ hãi bị chính phủ bắt và phạt họ. Mục đích của việc ngăn ngừa chủ yếu là để ngăn chặn việc trốn thuế, nhưng khái niệm này cũng bao hàm ý tưởng rằng các hình phạt cũng sẽ làm giảm nạn trốn thuế trong tương lai.