Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu: Trình bày về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp thực hiện, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế của đề tài. Chương 2: Tổng quan về cơ sở lý thuyết: Trình bày tóm tắt các lý thuyết có liên quan và các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: giới thiệu khung phân tích và mô hình phân tích, phương pháp phân tích, kiểm định, mô hình hồi quy. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: trình bày kết quả nghiên cứu qua các bước như: tính tần suất, thống kê mô tả, mô hình hồi qui, kiểm định thang đo.
Chương 5: Kết luận, khuyến nghị và hàm ý chính sách. CHUONG 2: CO SO LY THUYET 2. Khái quát về thuế XNK, khai báo thuế XNK 2. Khái niệm về thuế XNK Giáo trình thuế của Học viện Tài chính năm 2009 của PGS.TS Nguyễn Thị Liên và PGS.TS Nguyễn Văn Hậu định nghĩa: “Thuế XK, thuế NK là sắc thuế đánh vào hàng hoá XK, NK theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
Theo từ điển Luật học: "Thuế XK, NK là loại thuế gián thu đánh vào các loại hàng hóa XK, NK qua biên giới. Đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có hàng hóa XK, NK qua biên giới Việt Nam dưới mọi hình thức: mậu dịch chính ngạch, mậu dịch tiểu ngạch và phi mậu dịch (kế cả hàng hóa XK, NK từ khu chế xuất) trừ hang hóa vận chuyển quá cảnh hay mượn đường qua biên giới Việt Nam, hàng chuyển cửa khẩu theo quy định của Chính phủ, hàng viện trợ nhân đạo". Như vậy, thuế quan là loại thuế gián thu đánh vào hàng hóa XNK khi đi qua lãnh thổ của một quốc gia theo quy định phải chịu thuế. Nó là một yếu tố cầu thành trong giá cả hàng hóa do các tô chức, cá nhân XNK hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế đóng góp theo luật định cho Nhà nước.
Mức thuế, số thu thuế XNK tùy thuộc vào chính sách ngoại thương của mỗi quốc gia; Các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế mỗi lần có hàng hoá được phép xuất khâu, nhập khâu qua biên giới Việt Nam phải đến Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc những cơ quan đã được Tổng cục Hải quan cho phép đề làm thủ tục đăng ký tờ khai hàng hoá XNK. Khái niệm về khai báo thuế XNK Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều đã chuyên đổi cơ chế quản lý thuế là tự khai, tự nộp. Dac điểm của cơ chế này là người nộp thuế tự xác nhận số tiền thuế phải nộp và tự nộp số tiền thuế đó, người nộp thuế phải tự chịu trách nhiệm về việc kê khai và nộp thuế của mình cơ quan thuế có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra công việc kê khai của người nộp thuế. Theo quy định tại Điều 29 Luật Hải quan và điều 30 Luật Quản lý thuế hiện hành, người nộp thuế có những trách nhiệm tự kê khai đầy đủ, chính xác và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật các tiêu chí trên tờ khai, các yếu tố làm căn cứ tính thuế hoặc miễn thuế, xét miễn thuế, xét giảm thuế, xét hoàn thuế, không thu thuế XK, thuế NK, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng.
Cơ quan Hải quan tôn trọng việc tự tính thuế và khai thuế của người nộp thuế, đồng thời có các biện pháp giám sát hiệu quả, vừa bảo đảm khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế, vừa bảo đảm phát hiện, ngăn ngừa những trường hợp vi phạm pháp luật thuế. Tuy nhiên, việc kê khai báo và nộp thuế chuyền giao trực tiếp cho quyền lợi của người nộp thuế vào ngân sách nhà nước mà không có một sự đáp trả trực tiếp nào về mặt quyền lợi. Do đó, người nộp thuế luôn tìm đủ mọi cách để giảm thiêu chỉ phí thuế phải nộp, còn cơ quan Hải quan luôn kiểm soát để thu được trọn vẹn nhất số thuế cần thu theo luật định. Đề người khai Hải quan hoàn thành trách nhiệm của mình theo đúng quy định của pháp luật, cơ quan Hải quan, công chức Hải quan có trách nhiệm hướng dẫn thủ tục Hải quan, cung cấp thông tin tài liệu, công khai các thủ tục Hải quan, thủ tục Thuế.
Ngoài ra cơ quan Hải quan, công chức Hải quan thực hiện trách nhiệm và quyền hạn quy định tại Điều 27 Luật Hải quan; Điều 8,Điều 9 Luật Quản lý thuế .Khái quát về Hệ thống thông quan điện tử tự động( VNACCS/VCIS) Chính phủ Nhật Bản đã dành cho Việt Nam gói hỗ trợ toàn diện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại dé phát triển và xây dựng hệ thống thông quan tự động cho Hải quan Việt Nam dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến của hệ thống NACCS/CIS của Nhật Bản. Hệ thống VNACCS/VCIS là Hệ thống thông quan tự động và Cơ chế một cửa quốc gia gồm 02 hệ thống nhỏ: Hệ thống thông quan tự động (gọi tắt là Hệ thống VNACCS) và hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ (gọi tắt là Hệ thống VCIS). VNACCS/VCIS bao gồm các phần mềm như Khai báo điện tử (e-Declaration); Manifest điện tử (e-Manifest); Hóa đơn điện tử (e-Invoice); Thanh toán điện tu (e- Payment); C/O điện tử (e-C/O); Phân luồng (selectivity); Quản lý hồ sơ rủi ro/tiêu chi rủi ro; Quản lý doanh nghiệp XNK; Thông quan và giải phóng hàng; Giám sát và kiểm soát. Trong đó : VNACCS là hệ thống thông quan hàng hóa tự động và sử dụng cho mục đích thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu và tập trung cả 03 khâu: Khâu trước, trong và sau thông quan.
Chức năng của hệ thống này bao gồm: Chức năng, thủ tục là thủ tục đăng ký danh mục miễn thuế, thủ tục áp dụng chung cả hàng mậu dịch và phi mậu dịch, thủ tục đơn giản đối với hàng trị giá thấp, quản lý hàng hóa tạm nhập - tái xuất. Tăng cường kết nối với các Bộ, Ngành bằng cách áp dụng Cơ chế một cửa (Single Window). Theo thiết kế, Hệ thống VNACCS có sự kết nối với các Bộ, Ngành. Cơ quan Hải quan sẽ gửi thông tin liên quan đến việc xin cấp phép của các cơ quan chuyên ngành.
Kết quả xử lý cấp phép sẽ được thực hiện thông qua Hệ thống. Tiếp nhận và xử lý phân luồng tự động thông tin khai báo của doanh nghiệp. Hạn chế sử dụng hồ sơ giấy thông qua việc áp dụng chữ ký điện tử. Kết nối với nhiều hệ thống công nghệ thông tin của các bên liên quan như: doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, cảng, dịch vụ, giao nhận, Vận chuyển, Ngân hàng, các Bộ, Ngành liên quan.
Trước thông quan, hệ thống VNACCS hỗ trợ tập trung xử lý thông tin trước khi hàng đếnhoặc khai báo để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát Hải quan tại các khâu khai báo. Khi áp dụng Hệ thống VNACCS cho phép gộp một số chỉ tiêu của tờ khai trị giá theo phương pháp trị giá giao dịch vào tờ khai nhập khâu. Do đó, về cơ bản, đối với phương pháp trị giá giao dịch không cần phải khai riêng tờ khai trị giá như hiện nay. Đề đảm bảo việc thông quan hàng hóa nhanh chóng, những lô hàng có sự nghỉ vấn về giá sẽ chuyên sang khâu sau thông quan để xác định.
Bộ phận nào xử lý việc này sẽ được cân nhắc cụ thê trước khi đưa hệ thống này đi vào vận hành. Về giám sát, quản lý Hải quan đối với một số loại hình: khi áp dụng Hệ thống VNACCS, hệ thống sẽ được thực hiện theo hướng đơn giản hóa, gom các quy trình thủ tục theo hướng chuyên cửa khẩu, chuyên cảng, quá cảnh,.về loại hình là hàng hóa vận chuyên chịu sự giám sát của hải quan vì bản chat là việc chuyển hàng hóa từ địa điểm này sang địa điểm khác, chịu sự giám sát của Hải quan. VCIS là I hệ thống thông tin tình báo Hải quan phục vụ cho công tác quản lý rủi ro và giám sát nghiệp vụ của Hải quan Việt Nam, giúp tăng cường khả năng kiểm soát rủi ro của các đơn vị Hải quan các cấp. Trên cơ sở các thông tin sẵn có từ Hệ thống VCIS, các đơn vị Hải quan có thé đánh giá tuân thủ pháp luật Hải quan, pháp luật thuế, đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro đối với người thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
Đồng thời, xếp hạng mức độ rủi ro của DN tương ứng với mức độ tuân thủ pháp luật của DN theo 7 hạng từ DN ưu tiên có mức độ tuân thủ tự nguyện rất cao. đến DN có mức độ tuân thủ pháp luật kém (vi phạm pháp luật nhiều lần). Mọi thông tin nghiệp vụ liên quan đến thông quan hàng hóa XNK, đang được xử lý tại các chỉ cục Hải quan cửa khâu đều có thể kiểm tra, giám sát tập trung tại co quan Tổng cục. Về chế độ quản lý của Hải quan: Theo quy định tại Công văn số 2765/TCHQ- GSQL ngày 01/04/2015 của Tổng cục Hải quan, nhằm tạo thuận lợi cho việc quản lý Hải quan, thống kê và trên cơ sở khuyến nghị của Công ước Kyoto sửa đổi, Hệ thống VNACCS thực hiện chuân hóa các chế độ quản lý Hải quan với 38 mã loại hình xuất khẩu, nhập khẩu ( 22 ma loại hình nhập khẩu, 16 mã loại hình xuất khẩu) khi thực hiện khai báo Hệ thống VNACCS/VCTIS sẽ không phân biệt loại hình mau dich và phi mậu dịch, sự khác nhau chủ yếu là về mặt chứng từ.
Ngoài ra, một số loại hình đặc thù như hàng hóa mang vào, mang ra của cư dân biên giới, hàng an ninh quốc phòng, hàng trị giá thấp sẽ được thực hiện thủ công. MO HINH TONG QUAN HE THONG TQDT VNACCS Cac he thong VNAECES Chi cuc Hình 2.1 Mô hình tổng thể về hệ thống TQĐT VNACCS/VCIS (nguồn: www. Lý thuyết về sự không chắc chắn, không tuân thủ thuế và tuân thủ thuế 2. Lý thuyết về sự không chắc chắn Sự kiện không chắc chấn là sự kiện có thê nhiều kết cục trong đó có thể tính toán được xác suất xãy ra của mỗi kết cục.Trong các tình huống may rủi (hay mạo hiểm), chúng ta có thể tính được xác suất xảy ra các kết cục.
Ngược lại, trong tình huống bất định, chúng ta không thê tính được xác suất này. Có 2 loại xác suất: khách quan và chủ quan (Vũ Thành Tự Anh, 2005). Xác suất khách quan là xác suất trong đó chúng ta có thể (không thể) sử dụng các phương pháp xác suất và thống kê dé tính toán xác suất. Đối với xác suất chủ quan người ta ra quyết định phải phán đoán và tắt nhiên là các phán đoán chủ quan này phụ thuộc vào kinh nghiệm, tri thức, thông tin, khả năng phân tích và xử lý thông tin của người ra quyết định.