Chương 1 chỉ ra tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam, khóa luận đưa ra 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể từ mục tiêu nghiên cứu chung và sẽ được giải quyết thông qua 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Tiếp theo, đề tài trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu là 25 NHTM Việt Nam giai đoạn 2012 – 2022. Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên cơ sở kế thừa và mở rộng các nghiên cứu trước để cập nhật các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản có thể thay đổi theo thời gian. Cuối cùng, chương này trình bày cấu trúc của khóa luận gồm 5 chương và phần tóm tắt nội dung chính của từng chương.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN NGÂN HÀNG 2. Tổng quan về thanh khoản ngân hàng 2. Khái niệm thanh khoản Theo định nghĩa của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS, 2000) “Khả năng thanh khoản hay khả năng đáp ứng nguồn vốn cho sự tăng lên của tài sản có và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn”.
Còn Basel (2008) định nghĩa về thanh khoản ngân hàng như sau: “Thanh khoản ngân hàng là khả năng ngân hàng vừa tăng tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không phải chịu tổn thất quá mức”. Vì thế khi ở dưới góc độ tài sản, tính thanh khoản là khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền và ngược lại. Một tài sản được coi là có tính thanh khoản khi đáp ứng các tiêu chí sau: Có sẵn số lượng để mua hoặc bán, có sẵn thị trường để giao dịch, có sẵn thời gian để giao dịch và giá cả hợp lý và khi ở góc độ ngân hàng, thanh khoản được định nghĩa là khả năng đáp ứng kịp thời, đầy đủ trong quá trình hoạt động và giao dịch tài chính phát sinh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác. Trên thực tế, tài sản có tính thanh khoản cao bao gồm các loại giấy tờ có giá như tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, hối phiếu… và tài sản có tính thanh khoản thấp như bất động sản, dây chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị.
Theo Duttweiler (2009), thanh khoản là chuyển một tài sản cụ thể thành tiền mặt một cách dễ dàng và thị trường có đủ khả năng chấp nhận các giao dịch khi công ty muốn chuyển tài sản thành tiền mặt. Thanh khoản của ngân hàng gồm thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo. Thanh khoản tự nhiên được tạo ra từ tài sản của ngân hàng có thời gian đáo hạn theo quy định. Thông qua khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn tạo ra thanh khoản nhân tạo.
Dưới quan điểm của Trương Quang Thông (2013) thanh khoản là sự linh hoạt nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mặt của tài sản nào đó, với một chi phí thấp nhất có thể. Cách tiếp cận tài sản và vốn cho một bức tranh rõ ràng hơn về tính thanh khoản 8 là khả năng tiếp cận tài sản và vốn với chi phí hợp lý để đáp ứng nhu cầu đa dạng của ngân hàng. Nếu thời gian chuyển đổi ngắn và chi phí chuyển đổi thấp thì tính thanh khoản của tài sản sẽ cao. Mặt khác, nếu nguồn vốn nhanh và chi phí vốn thấp thì nguồn vốn sẽ có tính thanh khoản cao.
Nếu tài sản của ngân hàng không thể chuyển đổi thành tiền khi cần thiết để đảm bảo cho việc thanh toán các khoản tiền gửi, chuyển tiền, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn và các nghĩa vụ phát sinh từ đó thì rất dễ tan vỡ. nguy cơ phá sản ngân hàng. Với các định nghĩa thu thập được ở trên, tác giả có thể tóm tắt khái niệm thanh khoản ngân hàng, được thể hiện bằng việc ngân hàng sẽ thực hiện đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ của mình, chẳng hạn như thanh toán tiền gửi đúng hạn, giải ngân các khoản vay, thanh toán và giao dịch tài chính ở mức hợp lý với chi phí thấp để tránh gây ra những ảnh hưởng đáng kể dẫn đến khả năng thanh toán của ngân hàng. Vai trò và ý nghĩa của thanh khoản Tính thanh khoản có vai trò và ý nghĩa rất lớn đối với hệ thống của các NHTM.
Theo Mark Cuban (2016) phát biểu rằng thanh khoản là một đại diện tốt cho giá trị ròng tương đối bởi vì không ai có thể nói dối về giá trị tiền mặt, cổ phiếu và trái phiếu. Khi tính thanh khoản của NHTM kém thì những tổn thất tiềm năng về tài chính, thương hiệu có thể xảy ra do ngân hàng không có khả năng hoặc không thực hiện được các cam kết thanh toán và nghĩa vụ trả nợ đầy đủ, đúng hạn. Hiểu cách khác, khi NHTM có rủi ro thanh khoản cao hơn sẽ gây ra hậu quả rất lớn, mức độ nhẹ nhất là giảm doanh thu, uy tín thương hiệu giảm và mức nặng nhất là phá sản. Tóm lại, thanh khoản là một yếu tố định tính về sức mạnh tài chính của một ngân hàng (Joel Bessis, 2005).
Vì vậy, ngân hàng phải nắm giữ tài sản lưu động để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của khách hàng, nếu ngân hàng không đủ nguồn lực đáp ứng nhu cầu này thì phải vay từ thị trường liên ngân hàng hoặc từ tài sản trung tâm. Một ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng có thể dễ dàng vỡ nợ và quan trọng hơn là đánh mất niềm tin của khách hàng vào hệ thống ngân hàng. Đối với các nhà quản lý, thanh khoản được coi là một trong những mối quan tâm 9 hàng đầu của các ngân hàng thương mại. Quản lý tiền mặt trong ngân hàng là đảm bảo rằng ngân hàng có đủ tiền mặt và có thể vay tiền với chi phí hợp lý để đáp ứng nhu cầu tiền mặt bất cứ khi nào chúng phát sinh.
Hai hoạt động phổ biến nhất trong sử dụng vốn của ngân hàng là đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và cho vay của khách hàng. Các ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn của mình bằng cách bán tài sản lưu động hoặc vay trên thị trường tiền tệ theo Peter S. Đo lường thanh khoản Vodova (2011) đề xuất hai phương pháp đo lường thanh khoản: đo lường bằng khe hở thanh khoản và đo lường bằng tỷ số thanh khoản. Phương pháp đo lường khe hở thanh khoản là phương pháp đo lường tỷ lệ giữa vốn và tài sản ở hiện tại và tương lai.
Phương pháp tính toán các tỷ lệ khác biệt được thu thập từ dữ liệu bảng cân đối kế toán, từ đó dự đoán biến động thanh khoản chính là phương pháp đo lường tỷ lệ thanh khoản. Phương pháp đo lường khe hở thanh khoản Theo Ngô Thu Trà (2016), chênh lệch thanh khoản là chênh lệch giữa tổng dư nợ cho vay bình quân và tổng vốn huy động bình quân. Thiếu hụt thanh khoản là dấu hiệu cảnh báo sớm về rủi ro thanh khoản trong tương lai của ngân hàng. 𝐊𝐡𝐞 𝐡ở 𝐭𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐤𝐡𝐨ả𝐧 = 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐝ư 𝐧ợ 𝐛ì𝐧𝐡 𝐪𝐮â𝐧 – 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐯ố𝐧 𝐡𝐮𝐲 độ𝐧𝐠 𝐛ì𝐧𝐡 𝐪𝐮â𝐧 Giả sử khe hở thanh khoản là dương và có giá trị rất lớn.
Trong trường hợp này, các ngân hàng buộc phải giảm dự trữ tiền mặt, giảm tài sản lưu động hoặc vay thêm tiền trên thị trường tiền tệ, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng tăng lên (Đặng Văn Dân, 2015). Do đó, ngân hàng không những luôn luôn phải cân đối, đảm bảo một lượng tiền mặt sẵn hiện có để đáp ứng những biến động về nhu cầu vốn và lượng tiền mặt đó còn cần thiết cho những trường hợp ngày đáo hạn của tài sản và nợ phải trả khác nhau mà còn tính toán cân đối với khả năng huy động vốn trong tương lại. Phương pháp đo lường tỷ lệ thanh khoản Tính thanh khoản chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố bên trong, đặc biệt là sự tham gia thị trường, thay vì chỉ dựa vào các yếu tố khách quan bên ngoài (ví dụ: thị 10 trường hiệu quả, cơ sở hạ tầng, chi phí giao dịch thấp, số lượng người mua và người bán lớn, tính minh bạch của tài sản giao dịch, v.) bị ảnh hưởng bởi phản ứng của người đó. Đối mặt với sự không chắc chắn và thay đổi về tài sản (Aspachs, 2005).
Thời điểm hiện tại, có nhiều cách để đo lường tính thanh khoản của một ngân hàng Rose (2004) đã đo lường tính thanh khoản của một ngân hàng bằng phương pháp chỉ số thanh khoản. Phương pháp này đã được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng, tiêu biểu như Vodova (2011), Bunda & Desquilbet (2008). Phương pháp này bao gồm bốn chỉ số thanh khoản như sau: 𝐓à𝐢 𝐬ả𝐧 𝐭𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐤𝐡𝐨ả𝐧 𝐋𝟏 = 𝐱 𝟏𝟎𝟎% 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 Tài sản thanh khoản trong L1 bao gồm tiền mặt, chứng khoán kinh doanh và tiền gửi tại ngân hàng trung ương hoặc các tổ chức tín dụng khác. Tỷ lệ này cho biết trong tổng tài sản có của NHTM có bao nhiêu phần trăm tài sản lưu động.
Thông thường, chỉ số cao cho thấy vị thế thanh khoản tuyệt vời và rủi ro thanh khoản thấp, nhưng nó cũng cho thấy ngân hàng đang hoạt động kém hiệu quả do nắm giữ quá nhiều tài sản có khả năng sinh lời thấp hoặc tài sản không sinh lời. 𝐓à𝐢 𝐬ả𝐧 𝐭𝐡𝐚𝐧𝐡 𝐤𝐡𝐨ả𝐧 𝐋𝟐 = 𝐱 𝟏𝟎𝟎% (𝐓𝐢ề𝐧 𝐠ử𝐢 + 𝐕ố𝐧 𝐡𝐮𝐲 độ𝐧𝐠 𝐧𝐠ắ𝐧 𝐡ạ𝐧) Tỷ số thanh khoản L2 cho biết tài sản có tính thanh khoản như thế nào so với tiền gửi và vốn huy động. Tỷ lệ này giống như L1; tỷ lệ L2 càng cao (lớn hơn hoặc bằng 100%) thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt. 𝐊𝐡𝐨ả𝐧 𝐜𝐡𝐨 𝐯𝐚𝐲 𝐋𝟑 = 𝐱 𝟏𝟎𝟎% 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 Tỷ lệ này cho biết bao nhiêu phần trăm tổng tài sản của ngân hàng là dư nợ.
Tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng thấp dẫn đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng càng cao. 𝐊𝐡𝐨ả𝐧 𝐜𝐡𝐨 𝐯𝐚𝐲 𝐋𝟒 = 𝒙 𝟏𝟎𝟎% (𝐓𝐢ề𝐧 𝐠ử𝐢 + 𝐍𝐠𝐮ồ𝐧 𝐯ố𝐧 𝐧𝐠ắ𝐧 𝐡ạ𝐧) Tỷ lệ này tương tự như chỉ số L3. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng thấp. L1 và L2 đo lường tính thanh khoản tuyệt đối, 11 trong khi chỉ số L3 và L4 đo lường tính thanh khoản tương đối.