CHƯƠNG 1 Trong chương đầu tiên này, tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài cũng như các phần liên quan quan trọng như mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và cấu trúc nghiên cứu từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu trong chương sau. Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày khung lý thuyết tổng thể, các nghiên cứu liên quan và sau đó đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu dựa trên việc kế thừa lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về dịch vụ và chất lượng dịch vụ 2.
Các khái niệm về dịch vụ Gronroos (2000) đã định nghĩa dịch vụ là: “Dịch vụ là một quá trình gồm nhiều hoạt động vô hình, nhưng không nhất thiết phải luôn luôn diễn ra trong tương tác giữa khách hàng và các hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ, dịch vụ cung cấp là giải pháp cho khách hàng”. Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công (Hoàng Phê, 2004). Theo quy định trong Luật giá thì, dịch vụ là hàng hóa mang tính vô hình, trong quá trình sản xuất và tiêu dùng không hề tách rời nhau, bao gồm những loại dịch vụ trong hệ thống các ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật (Quốc hội, 2013). Kotler (2018) định nghĩa dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Còn theo Pakurár & cộng sự (2019) Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn (Alam & Al-Amri, 2020) 9 Như vậy, từ việc tổng hợp những khái niệm chung về dịch vụ và diễn giải tham khảo đã nêu, tác giả đưa ra định nghĩa về dịch vụ: là một hoặc một loạt các hành vi, có tính chất vô hình, liên quan đến sự tương tác, trao đổi giữa doanh nghiệp cung ứng dịch vụ và khách hàng (người sử dụng dịch vụ).
Mục đích là thỏa mãn những mong đợi, những nhu cầu mà khách hàng yêu cầu. Khái niệm về chất lượng dịch vụ Theo quan điểm của Gronroos (1984) cho rằng, chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh: chất lượng kỹ thuật và chất lưỡng kỹ năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ còn chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào. Nếu như sự kỳ vọng lớn hơn hiệu quả của dịch vụ thì khách hàng sẽ không hài lòng về chất lượng, và do đó họ không hài lòng về chất lượng dịch vụ (Lewis & cộng sự, 1983).
Theo Parasuraman & cộng sự (1985), chất lượng dịch vụ là sự cảm nhận của khách hàng về các giá trị mà dịch vụ đem lại cho khách hàng. Một định nghĩa khác của Parasuraman & cộng sự (1985) thì chất lượng dịch vụ là khi cảm nhận của khách hàng về một dịch vụ đã tạo ra ngang xứng với kì vọng trước đó của họ. Kì vọng trong chất lượng dịch vụ là những mong muốn của khách hàng, nghĩa là họ cảm thấy nhà cung cấp phải thực hiện chứ không phải sẽ thực hiện các yêu cầu về dịch vụ. Chất lượng dịch vụ là phạm vi mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng (Asubonteng & cộng sự, 1996).
Theo Mistry (2013) cho rằng chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng- những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặc không nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn – và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh. Theo Khan & Fasih (2014) thì chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng. 10 Chất lượng dịch vụ có nhiều cách định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu và việc tìm hiểu chất lượng dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp nhưng xét một cách tổng thể, chất lượng dịch vụ được định nghĩa như sau: Chất lượng dịch vụ đo lường mức độ tốt của một dịch vụ so với sự mong đợi của khách hàng. Doanh nghiệp đáp ứng hoặc vượt quá mong đợi được coi là có chất lượng dịch vụ cao.
Lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng 2. Khái niệm về sự hài lòng của khách hàng Có nhiều quan điểm khác nhau về sự hài lòng của khách hàng. Vào những năm cuối thập niên 80 thì Parasuraman & cộng sự (1988) định nghĩa sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm đã biết và sự mong. Sau đó, Bachelet & cộng sự (1995) cho rằng sự hài lòng của khách hàng như một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại với kinh nghiệm của họ với một sản phẩm hay một dịch vụ.
Trong khi đó, Bowen & Chen (2001) cho rằng sự hài lòng của khách hàng là một nhiệm vụ của doanh nghiệp thể hiện qua mối quan hệ giữa những giá trị của sản phẩm, dịch vụ đó so với những mong đợi trước đó của khách hàng về chúng. Sự hài lòng được đo lường bằng khả năng đáp ứng sự mong muốn của khách hàng khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ (Oliver, 2000). Sự hài lòng của khách hàng là trạng thái khi họ cảm nhận về chất lượng dịch vụ so với sự kỳ vọng (Phiri & Mcwabe, 2013). Sang những năm đầu của thế kỷ 21 thì Jamal & Naser (2002, 2003); Mishra (2009) cho rằng sự hài lòng của khách hàng là một trong những kết quả quan trọng nhất trong tài liệu kinh doanh.
Sự hài lòng giúp liên kết các quá trình mua hàng và tiêu dùng lên đến đỉnh điểm với các hiện tượng sau khi mua như thay đổi thái độ, mua lặp lại và lòng trung thành với thương hiệu. Armstrong & cộng sự (2014) thì lại cho rằng sự hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt đầu từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm hoặc 11 dịch vụ với những kỳ vọng của người đó, nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì khách hàng không hài lòng, nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng, nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ vọng thì khách hàng rất hài lòng. Như vậy, có thể thấy rằng có rất nhiều các định nghĩa về sự hài lòng nhưng tóm lại có thể thấy sự hài lòng là mức chênh lệch giữa sự cảm nhận và sự kỳ vọng của khách hàng khi sử dụng hàng hóa và dịch vụ. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng là hai khái niệm riêng biệt nhưng có liên quan chặt chẽ.
Có một mối quan hệ tích cực giữa hai khái niệm này (Lassar & cộng sự, 2000). Mối quan hệ giữa sự hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ là điều gây tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu lập luận rằng chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự hài lòng, trong khi những người khác tranh luận về mối quan hệ ngược lại. Theo Zeithaml (2000), chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng khách hàng là hai khái niệm khác nhau, trong khi chất lượng dịch vụ chỉ tập trung cụ thể vào những thành phần của dịch vụ, mức độ hài lòng khách hàng là khái niệm tổng quát.
Hiện vẫn chưa có được sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về các khái niệm, nhưng đa số các nhà nghiên cứu cho rằng giữa chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng khách hàng có mối liên hệ với nhau (Cronin &Taylor, 1992). Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu tập trung vào việc kiểm tra mức độ giải thích của các thành phần của chất lượng dịch vụ đối với sự mức độ hài lòng khách hàng, đặc biệt trong từng ngành dịch vụ cụ thể (Lassar & cộng sự, 2000). Vì thế, một vấn đề đặt ra là cần phải nghiên cứu thêm về mối quan hệ các nhân tố của chất lượng dịch vụ với mức độ mức độ hài lòng của khách hàng ứng với một lĩnh vực cụ thể. Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng (Cronin & Taylor, 1992; Karatepe & cộng sự, 2005; Ahmad & cộng sự, 2015).
Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì doanh nghiệp đó đã bước đầu làm cho khách hàng hài 12 lòng. Do đó, muốn nâng cao sự hài lòng khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ. Nói cách khác, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau, trong đó chất lượng dịch vụ là cái tạo ra trước và sau đó quyết định đến sự hài lòng của khách hàng. Mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này là vấn đề then chốt trong hầu hết các nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng.
Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ 2. Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronroos Theo Gronroos (1984), chất lượng dịch vụ được xem xét dựa trên hai tiêu chí là chất lượng dịch vụ chức năng (FSQ: Functional Service Quality) và chất lượng dịch vụ kỹ thuật (TSQ: Technical Service Quality) và chất lượng dịch vụ bị tác động mạnh mẽ bởi hình ảnh doanh nghiệp (Corporate Image).