chương 1 cũng giải thích phương pháp nghiên cứu được sử dụng và những đóng góp của đề tài. Tổng quan về ngân hàng số 2. Khái niệm Ngân hàng số là mô hình hoạt động ngân hàng chủ yếu dựa vào nền tảng dữ liệu điện tử và công nghệ số. Theo Sarma (2017), ngân hàng số là sự chuyển đổi tất cả các hoạt động cũng như dịch vụ ngân hàng sang môi trường số, điều này đòi hỏi công nghệ cao bao gồm quá trình đổi mới trong dịch vụ tài chính cho KH bằng kỹ thuật số, giao dịch lập trình (API), trí tuệ nhân tạo, và sự tự động hóa.
Những công nghệ này được làm hầu hết qua nền tảng công nghệ, và mạng lưới internet, hay điện thoại thông minh nhằm thực hiện các giao dịch giữa ngân hàng và KH. Theo một quan điểm khác, Pshenichnikov (2018) khi so sánh đặc điểm giữa ngân hàng số và truyền thống đã cho rằng ngân hàng số thường không bị giới hạn về khung thời gian hoạt động, cũng như về mặt địa lý bên cạnh đó các khoản phí cũng tương đối thấp hoặc được miễn phí do đó KH có thể quản lý tài khoản ngân hàng một cách linh hoạt, thực hiện các giao dịch ngay lập tức, và dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các thông tin, dịch vụ của ngân hàng. Còn theo Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Thanh Phương (2019), ngân hàng số là một nền tảng công nghệ tài chính cho phép người dùng có thể thực hiện các giao dịch, và sử dụng trải nghiệm các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng trên các thiết bị công nghệ thông qua ứng dụng và trang web riêng của từng ngân hàng. Như vậy, qua các khái niệm có thể hiểu ngân hàng số là việc cung cấp các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng thông qua các kênh số hóa.
Điều này bao gồm việc sử dụng các ứng dụng trên điện thoại di động, trang web, và các công nghệ khác để thực hiện các giao dịch tài chính và quản lý tài khoản mà không cần đến chi nhánh ngân hàng truyền thống. Lợi ích của ngân hàng số Với đặc tính là các thao tác giao dịch được thực hiện hoàn toàn qua ứng dụng, trang web, sự ra đời của ngân hàng số đã mang đến những lợi ích thiết thực cho cả ngân hàng, khách hàng và cộng đồng. 8 Ngân hàng số giúp mở ra kênh phân phối mới cho các dịch vụ ngân hàng. Bằng cách phát triển ngân hàng số, các NHTM có thể dễ dàng hơn trong việc mở rộng phạm vi hoạt động, tiếp cận các đối tượng khách hàng khác nhau mà không bị giới hạn về mặt thời gian và không gian.
Bên cạnh đó, dựa vào ngân hàng số có thể giúp các NHTM giảm bớt các thủ tục hành chính và vận hành phức tạp, tiết kiệm các khoản chi phí hoạt động liên quan. Ngoài ra thông qua ngân hàng số, các NHTM có thể tiến hành các hoạt động xúc tiến, tiếp thị sản phẩm dịch vụ đến khách hàng một cách thuận tiện hơn, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ, hiệu quả hoạt động và qua đó gia tăng khả năng cạnh tranh so với các đối thủ (Trần Văn Hòe, 2010). Ngân hàng số giúp cho các giao dịch của KH diễn ra tiện lợi, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chính xác, an toàn , bảo mật và có chi phí thấp hơn so với giao dịch trực tiếp tại quầy. Đồng thời ngân hàng số còn giúp KH thuận tiện hơn khi tiếp cận các dịch vụ khác như thông báo lãi suất, thanh toán phí sinh hoạt, phí bảo hiểm,… điều này sẽ giúp cho mọi đối tượng KH có được những trải nghiệm dịch vụ vượt trội hơn so với ngân hàng truyền thống (Phan Thị Cúc và ctg, 2023).
Ở một phạm vi khác, ngân hàng số cũng tạo ra một hình thức hoạt động mới, góp phần tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy các hoạt động giao thương hàng hóa, dịch vụ và du lịch phát triển, qua đó tạo cơ hội hợp tác kinh tế thương mại với các quốc gia khu vực và thế giới. Tổng quan về sự hài lòng và chất lượng dịch vụ 2. Khái niệm về sự hài lòng Tse và Wilton (1988) cho rằng sự hài lòng là cảm xúc phản ứng của người tiêu dùng đối với sự khác biệt giữa mong đợi trước đó và sự thể hiện thực sự của sản phẩm sau khi họ đã tiếp nhận và sử dụng. Sự hài lòng còn là một trạng thái trong đó những nhu cầu của KH, hay sự mong muốn và chờ đợi đối với sản phẩm và dịch vụ được thỏa mãn hay vượt quá sự thỏa mãn, kết quả là có ý định mua hàng lặp lại, lòng trung thành và đồng thời muốn giới thiệu cho người khác (Ghane và các cộng sự, 2011).
Còn theo quan điểm của Kotler và Keller (2006), sự hài lòng là cảm giác vui thích 9 hoặc thất vọng của một người bắt nguồn từ sự so sánh cảm nhận thực tế so với mong đợi về chất lượng của một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Trong nghiên cứu này, có thể hiểu sự hài lòng như là một cảm xúc phản hồi của một cá nhân có được sau khi so sánh kết quả trải nghiệm sản phẩm, dịch vụ trước và sau khi sử dụng. Sự hài lòng có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau, nó không chỉ là một cảm giác thoáng qua mà còn là một trạng thái bền vững, phản ánh một sự cân bằng và hài hòa trong cuộc sống. Khái niệm về chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một phạm trù tương đối rộng và phức tạp, nó phản ánh và đánh giá khả năng của một tổ chức, hay cá nhân có thể đáp ứng các nhu cầu, mong đợi của KH khi sử dụng dịch vụ/ sản phẩm dựa theo các tiêu chuẩn được hình thành rong quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ (Nguyễn Văn Thiệu, 2016).
Còn theo Parasuraman và các cộng sự (1985) chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi và nhận thức của KH khi đã sử dụng dịch vụ, là một khái niệm đánh giá mức độ mà dịch vụ cung cấp đáp ứng được nhu cầu, mong đợi và yêu cầu của KH. Điều này bao gồm cả sự đáp ứng chính xác, hiệu quả, và đáp ứng tích cực đối với nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Chất lượng dịch vụ không chỉ liên quan đến sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể mà còn bao gồm cả trải nghiệm tổng thể của khách hàng trong quá trình tương tác với tổ chức (Phan Thị Cúc và cộng sự, 2023). Các yếu tố quan trọng của chất lượng dịch vụ bao gồm độ tin cậy, tính thân thiện, khả năng giải quyết vấn đề, độ linh hoạt, độ chính xác, thời gian phản hồi, và sự đa dạng trong cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ.
Mục tiêu của chất lượng dịch vụ là tạo ra sự hài lòng và trung thành từ phía KH, đồng thời xây dựng và duy trì danh tiếng tích cực cho tổ chức hoặc doanh nghiệp (Hansemark và Albinson, 2004). Tóm lại có thể hiểu chất lượng dịch vụ là sự đánh giá toàn diện về thái độ hướng tới sự xuất sắc của dịch vụ, thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đạt đến mức độ có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng KH, tất cả các thuộc tính chất lượng dịch vụ liên quan đến sự hài lòng của KH, cải thiện chất lượng dịch vụ là quá trình làm cho KH hài lòng. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng Sự hài lòng và chất lượng dịch vụ là hai khái niệm riêng biệt nhưng chúng có mối liên kết chặt chẽ và tương tác mạnh mẽ và ảnh hưởng lẫn nhau. Chất lượng dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng.
Khi một tổ chức cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ chất lượng cao, khả năng cao là khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng về trải nghiệm của mình. Chất lượng dịch vụ tốt hơn giúp đáp ứng được mong đợi và nhu cầu của khách hàng, từ đó tạo ra một cảm giác tích cực và thoải mái. Ngược lại, sự hài lòng của khách hàng cũng là kết quả của chất lượng dịch vụ. Khi khách hàng cảm thấy hài lòng với trải nghiệm của mình, điều này thường phản ánh việc họ nhận thấy rằng dịch vụ đã đáp ứng đúng những mong đợi và mong muốn của họ.
Sự hài lòng của khách hàng thường đi đôi với việc họ đánh giá chất lượng dịch vụ là cao (Parasuraman và các cộng sự, 1988). Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của KH là hai yếu tố không thể tách rời trong kinh doanh hiện đại và đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì một môi trường kinh doanh thành công và bền vững (Nguyễn Hồng Quân, 2019). Chất lượng dịch vụ cao là yếu tố quyết định trong việc tạo ra sự hài lòng từ phía KH. Khi KH cảm thấy hài lòng với dịch vụ, họ có khả năng cao hơn để quay lại sử dụng và giới thiệu cho người khác, góp phần vào sự phát triển và tăng trưởng của doanh nghiệp (Zeithaml và Bitner, 2000).
Rust và cộng sự (1995), hay Zeithaml và cộng sự (1996) cũng đã kiểm định về mối quan hệ và đều nhận thấy rằng chất lượng dịch vụ có một ý nghĩa quan trọng, và là tiền đề, thước đo quyết định đến sự hài lòng của KH. Nếu sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp hay ngân hàng đưa ra có chất lượng thỏa mãn được nhu cầu của KH thì họ đã hoàn thành làm KH hài lòng. Các mô hình đánh giá sự hài lòng của khách hàng ❖ Mô hình SERVQUAL Mô hình SERVQUAL là một công cụ đo lường chất lượng dịch vụ được phát triển bởi Valarie Zeithaml, A. Parasuraman và Leonard Berry vào những năm 1980.
11 Mô hình này dựa trên năm yếu tố chính để đo lường chất lượng dịch vụ từ góc độ khách hàng. Các yếu tố này được viết tắt bằng từ "RATER", bao gồm: Hình 2.1: Mô hình thang đo chất lượng dịch vụ SERQUAL Nguồn: Parasuraman và các cộng sự (1985, 1988) Reliability (Độ tin cậy): Khả năng cung cấp dịch vụ đáng tin cậy và đáp ứng mong đợi của khách hàng. Assurance (Sự đảm bảo): Sự tự tin và sự kiến thức của nhân viên trong việc cung cấp dịch vụ và giải đáp thắc mắc của khách hàng. Tangibles (Vật chất): Độ hiện diện của yếu tố vật chất, như cơ sở vật chất, thiết bị và bảng hiển thị.
Empathy (Sự đồng cảm): Khả năng và sự mong đợi của nhân viên hiểu và quan tâm đến nhu cầu của khách hàng. Responsiveness (Tính nhanh nhạy): Sự nhanh nhẹn trong việc cung cấp dịch vụ và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng.