Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Danh từ “rủi ro” có nhiều khái niệm khác nhau. Frank Knight một học giả người Mỹ, định nghĩa “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”. Allan Willett cho “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi”. Inrving Perfer lại cho rằng “rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất”.
Một học giả khác người Anh là Marilic Hurt Mr Carty quan niệm “rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được”. Theo thông tư 39/2013/TT-NHNN, ngày 31/12/2013 của Thống đốc NHNN Việt Nam thì rủi ro tín dụng trong hoạt động của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Theo Khan và Ahmed (2003) cho rằng rủi ro tín dụng trong ngân hàng là nguy cơ bên đi vay không thực hiện việc cam kết trả tiền của mình. Rekha Arunkumar trong bài nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cho rằng rủi ro tín dụng là sự không trả được nợ của người vay, nó là rủi ro quan trọng nhất cần được quản lý cho đến ngày nay.
Rủi ro tín dụng là được phản ánh trong thành phần vốn của nền kinh tế, các ngân hàng cần phải quản lý và kiểm soát nó chặt chẽ để duy trì sự ổn định và tránh những rủi ro khác. Từ các định nghĩa trên, ta có thể thấy RRTD xảy ra khi người đi vay trễ hẹn hoặc tồi tệ hơn là không thanh toán trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi phát sinh.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng Các khoản vay của khách hàng thường có nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng. Sở dĩ như vậy là do tình hình tài chính của khách hàng thường thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng kinh doanh và sức khỏe tài chính của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân và hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh 6 nghiệm, trình độ kỹ thuật và khoa học công nghệ lạc hậu, do đó khả năng cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế.
Do đó, ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi người đi vay thất nghiệp, phá sản,… Mặt khác, việc thẩm định và quyết định cho vay khách hàng cũng hay gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ, không rõ ràng, các thông tin cá nhân thường bị giấu kín, do đó chất lượng thẩm định khách hàng không cao. Điều này ảnh hưởng đến các quyết định cho vay của NH. Chính vì vậy, các khoản vay khách hàng thường tiềm ẩn nhiều RRTD.1 Khả năng tài chính của người vay Theo khái niệm cơ bản nhất, rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, hoặc không đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng. Có nhiều tiêu chí phản ánh RRTD của NHTM: - Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ - Tỷ lệ nợ xấu trên tổng vốn chủ sở hữu - Nợ có vấn đề, cần cảnh báo sớm RRTD là khả năng không trả được nợ của khách hàng nên các Ngân hàng cần phát hiện sớm các khoản vay có vấn đề, thuộc cảnh báo sớm.
Khách hàng phá sản, lừa đảo, chây ỳ trong trả nợ vay là biểu hiện rõ nhất; bên cạnh đó các khoản nợ không trả được khi đến hạn ở các cấp độ khác nhau cũng thể hiện các khả năng vỡ nợ khác nhau. Nhiều ngân hàng cho rằng nếu một khoản nợ đến hạn không trả được, thì các khoản nợ khác của cùng một chủ thể chưa đến hạn cũng được coi là có rủi ro tiềm ẩn. Trường hợp dù nợ chưa đến hạn hoặc đến hạn vẫn trả được nhưng tình hình tài chính yếu kém, môi trường kinh doanh có biến động không thuận lợi cho khách hàng thì khoản nợ đó cũng được coi là có rủi ro tín dụng. Những thước đo RRTD cho thấy rủi ro tín dụng có độ rộng đối với nhiều mức độ khác nhau.
Điều này cho thấy rằng rủi ro tín dụng không chỉ được đo lường bằng tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ, mà còn được đánh giá dựa trên mức độ phân tán của nợ xấu.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng - Đối với ngành ngân hàng RRTD là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh của ngân hàng. RRTD sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Đồng thời làm hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể làm cho ngân hàng mất cân đối trong thanh toán, làm cho ngân hàng có nguy cơ thua lỗ, hoặc mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản nếu không có những biện pháp khắc phục kịp thời.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ. Một ngân hàng có RRTD cao sẽ làm giảm lòng tin khách hàng đối với ngân hàng. Ở những ngân hàng có RRTD cao thì khách hàng gửi tiền sẽ rút tiền gửi và gửi sang những ngân hàng có RRTD thấp hơn. Tình trạng này kéo dài lâu thì ngân hàng sẽ không còn nguồn vốn để cho vay và hoạt động kinh doanh bị giảm sút.
- Đối với khách hàng Đối với bản thân khách hàng không có khả năng hoàn trả vốn (lãi) cho ngân hàng thì hầu như họ không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là cả những nguồn khác trong nền kinh tế do đã mất đi uy tín. Đây được hiểu đơn giản là khách hàng này đã được liệt vào danh sách đen và cảnh báo với các ngân hàng khác về nguy cơ không thu hồi được tiền nếu khách hàng này vay. Khách hàng nhiều khả năng sẽ bị thu giữ tài sản thế chấp trong trường hợp không thể thanh toán được khoản nợ gốc và lãi với ngân hàng. - Đối với nền kinh tế 8 Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, thực hiện chức năng huy động vốn của những người có vốn nhàn rỗi và cho những người cần vốn vay lại.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế, đến tất cả các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn; đến tất cả các tầng lớp dân cư trong xã hội nên khi có rủi ro thì không chỉ ngân hàng bị thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền, người có nhu cầu vay tiền cũng bị ảnh hưởng. Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng có thể làm phá sản một vài ngân hàng và có thể có nguy cơ ảnh hưởng đến các ngân hàng còn lại và tạo tâm lý bất an trong dân chúng. Khi đó, dân chúng sẽ cùng đến ngân hàng rút tiền gửi trước hạn, nguy cơ gây ra sự phá sản của đồng loạt các ngân hàng, toàn bộ hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng. Rộng hơn là khi rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng cao làm cho uy tín ngân hàng bị giảm sút, hệ thống ngân hàng không thực hiện được chức năng trung gian tài chính thì ảnh hưởng xấu đến tình hình sản xuất kinh doanh của các cá nhân, doanh nghiệp, nền kinh tế bị trì trệ, kém phát triển, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định.2 Các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng Từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, với các tác giả như Ahlem Selma Messai and Fathi Jouini (2013), Dimitrios P.
Chapman and associates (1940), ….Và qua thực tế cho thấy các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng rất đa dạng, có thể chia thành hai nhóm: Các yếu tố vĩ mô và các yếu tố vi mô.1 Các yếu tố vĩ mô Môi trường kinh tế - Chu kỳ kinh tế Một trong những yếu tố khá phổ biến dẫn đến rủi ro tín dụng là xuất phát từ việc người vay gặp phải những thay đổi khó lường của môi trường kinh doanh, ảnh hưởng 9 của chu kỳ kinh tế. Trong giai đoạn tăng trưởng cao, các cá nhân, hộ kinh doanh thuận lợi nên dễ thu hồi nợ vay và rủi ro tín dụng xảy ra là thấp. Ngược lại, vào thời kỳ suy thoái, nhiều hộ kinh doanh gặp khó khăn nên các khoản vay dễ xảy ra rủi ro đặc biệt là những khoản trung dài hạn. - Lãi suất, lạm phát, tỷ lệ dự trữ bắt buộc Lãi suất cơ bản cao phản ánh chính sách can thiệp của Ngân hàng Trung ương khi lạm phát vượt qua mức độ cho phép.
Cơ chế hoạt động của công cụ dự trữ bắt buộc nhằm khống chế khả năng tạo tiền, hạn chế bội số tín dụng của các NHTM, gián tiếp tác động đến rủi ro tín dụng tại các NHTM. Khi lạm phát cao, NHTƯ nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng cho vay và khả năng thanh toán của các ngân hàng bị thu hẹp (do hệ số nhân tiền tệ giảm), khối lượng tín dụng trong nền kinh tế giảm dẫn đến lãi suất tăng, lãi suất tăng bao gồm lãi suất vay. Điều này có thể làm tăng áp lực thanh toán nợ của những khách hàng vay hiện tại cũng như khả năng xảy ra rủi ro tín dụng tăng cao hơn. Ngược lại nếu lạm phát hạ thấp, NHTƯ giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là tăng khả năng tạo tiền, cung về tín dụng cũng tăng lên và lãi suất vay lúc này giảm so với trước.
Khách hàng không bị áp lực số tiền lãi thanh toán cho NH, việc xảy ra rủi ro tín dụng giảm. Tuy nhiên khi lãi suất vay giảm, khối lượng tín dụng tăng lên và có trong dài hạn sẽ dẫn đến lạm phát tăng cao. Môi trường pháp lý Đây là yếu tố gây rủi ro phổ biến ở những nước có chính sách quản lý kinh tế không ổn định.