chương 1 đã trình bày rõ ràng cấu trúc của khóa luận là 5 chương. Những nội dung trên sẽ là cơ sở quan trọng để triển khai nghiên cứu những nội dung tiếp theo của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM 2.
Tổng quan về Ngân hàng Thương mại Theo Peter Rose (2002), định nghĩa NHTM “Là một trong những định chế tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. Ngân hàng là nguồn cung cấp tín dụng chính (quỹ cho vay) đối với hàng triệu cá nhân, gia đình và các doanh nghiệp trong nền kinh tế”. Theo Mai Văn Bạn (2009), NHTM “Là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân hàng, một trung gian tài chính cung ứng vốn chủ yếu, hữu hiệu cho nền kinh tế. Việc tạo lập và tổ chức quản lý vốn của NHTM là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu đối với NHTM”.
Theo Phan Thị Thu Hà (2014), NHTM “Là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Hoạt động ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng. Yêu cầu phải có đơn vị tiền tệ kim loại với trọng lượng và hàm lượng xác định tạo điều kiện cho trao đổi hàng hoá dẫn đến việc đúc tiền. Việc đúc tiền sau đó được nhà nước độc quyền thực hiện.
Việc lưu hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ kết hợp với thương mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cầu về dịch vụ đổi tiền tại các cửa khẩu hoặc trung tâm thương mại. Lợi nhuận thu được từ chênh lệch giá mua bán”. Theo Forbes India (2024), “Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính thực hiện các hoạt động liên quan đến gửi và rút tiền cho công chúng, cho vay đầu tư và thực hiện các hoạt động tương tự khác. Hai chức năng chính của ngân hàng thương mại là cho vay và đi vay.
Họ đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính của đất nước bằng cách điều hòa dòng vốn, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế” Ở Việt Nam, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của chính phủ về tổ chức và hoạt động NHTM được định nghĩa “là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân 10 hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật” Theo Khoản 21 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 quy định “Ngân hàng là tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Theo Khoản 23, Điều 4 Luật cũng quy định rằng “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Theo Ôn Quỳnh Như (2017) “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán nhằm thực hiện các hoạt động nghiệp vụ để sinh lợi nhuận và ổn định lưu thông tiền tệ trong thị trường”. Bên cạnh đó, theo Khoản 4 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 quy định “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Cấp tín dụng là hoạt động ẩn chứa khá nhiều rủi ro trong đó có thể nói rủi ro tín dụng khá phổ biến và quan trọng, là nguyên nhân gây ra thất thoát và dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng.
Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Thomas P. Fitch (1997) định nghĩa: “RRTD là rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.” 11 Theo Ủy ban Basel (2006) Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà khách hàng hoặc đối tác không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận. Theo Joel Bessis (2015) RRTD là tổn thất do vỡ nợ hoặc suy giảm tín dụng của người vay.
Rủi ro vỡ nợ là khả năng người vay không đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ, dẫn đến việc người vay mất toàn bộ hoặc một phần số tiền cho vay. RRTD cũng bao gồm sự suy giảm chất lượng tín dụng, điều này không biểu thị khả năng vỡ nợ nhưng có liên quan đến khả năng vỡ nợ cao. Theo Bùi Diệu Anh & Trần Chí Chinh (2022) “RRTD được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất thiệt hại cho ngân hàng, khi khách hàng (bên nhận tín dụng) vi phạm cam kết: không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả gốc và lãi cho ngân hàng cấp tín dụng”. Theo khoản 1 Điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là “rủi ro”) là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 31/2024/TT-NHNN quy định về RRTD như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng (sau đây gọi là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận (sau đây gọi là thỏa thuận) với ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng”. Từ các khái niệm đã nêu trên, có thể rút ra nội dung cơ bản: RRTD xảy ra khi người vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, tức là người đi vay trễ hạn hoặc không có khả năng thanh toán nợ theo nghĩa vụ đã cam kết trên hợp đồng tín dụng, bao gồm vốn gốc và lãi phát sinh. Điều này dẫn đến tổn thất tài chính và giảm giá trị thị trường của vốn ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Cách phân loại RRTD phổ biến nhất là từ nguyên nhân phát sinh rủi ro, chủ yếu từ những vấn đề của bên cho vay.
Theo Trần Huy Hoàng (2011), Bùi Diệu Anh & Trần Chí Chinh (2022) RRTD được chia thành rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk). Rủi ro giao dịch, một loại rủi ro mang tính kỹ thuật, xuất phát từ những hạn chế trong quy trình thẩm định khách hàng, phê duyệt tín dụng và giám sát khoản vay, có thể dẫn đến những quyết định cho vay sai lầm và gia tăng khả năng mất vốn. Rủi ro giao dịch bao gồm ba loại là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn phát sinh trong quá trình xét duyệt và đánh giá, phân tích tín dụng đối với khách hàng, khi tiếp nhận một đề nghị vay vốn từ khách hàng, ngân hàng luôn luôn đứng trước sự lựa chọn bất lợi đó là khả năng chấp thuận một khoản vay có độ an toàn thấp đồng thời với việc loại bỏ một khoản vay có độ an toàn cao.
Sự lựa chọn không đúng là một trong các nguyên nhân dẫn đến việc ngân hàng phải đương đầu với khả năng không thu được vốn ban đầu. Rủi ro bảo đảm phát sinh khi tài sản đảm bảo, vốn được kỳ vọng sẽ bảo đảm khoản vay trước rủi ro mất vốn, lại không đáp ứng được các tiêu chuẩn đã đặt ra, khiến ngân hàng đối mặt với nguy cơ không thu hồi được khoản vay. Đó là các tiêu chuẩn trong hợp đồng tín dụng về tài sản bảo đảm, vốn đối ứng, về những thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng vay. Đầy đủ cơ sở pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi cho ngân hàng trong trường hợp xảy ra tranh chấp sau này, ngăn chặn những hành vi gây bất lợi cho ngân hàng.
Rủi ro nghiệp vụ liên quan đến công tác quản lí và các hoạt động theo dõi, kiểm tra và đánh giá thường xuyên đối với các khoản sau khi cho vay nhằm đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và giảm thiểu rủi ro tín dụng bao gồm việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro, quy trình giải ngân, quy trình xử lý nợ có vấn đề. Những sai sót trong quá trình tác nghiệp có thể làm gia tăng khả năng xảy ra rủi ro và mức độ tổn thất trong một khoản tín dụng. 13 Rủi ro danh mục là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lí danh mục cho vay của ngân hàng. Một danh mục cho vay kém hiệu quả có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho ngân hàng, bao gồm tăng rủi ro tín dụng, từ việc giảm lợi nhuận đến việc thậm chí dẫn đến tổn thất vượt quá khả năng chịu đựng.
Rủi ro danh mục bao gồm hai yếu tố chính là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Cả rủi ro nội tại và rủi ro tập trung đều góp phần làm tăng mức độ rủi ro của một danh mục cho vay kém hiệu quả. Rủi ro nội tại bắt nguồn từ những đặc tính riêng biệt của từng đối tượng tín dụng, từng ngành nghề, từng loại hình giao dịch tín dụng, phương thức cấp tín dụng. Có thể nói rủi ro nội tại có tính tất yếu, là một yếu tố khách quan không thể tránh khỏi trong hoạt động cho vay, việc loại bỏ hoàn toàn rủi ro nội tại là không khả thi.
Tuy nhiên, ngân hàng có thể chủ động giảm thiểu rủi ro này thông qua các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả, các biện pháp kiểm soát phù hợp. Rủi ro tập trung là loại rủi ro hệ thống có thể ảnh hưởng đến toàn bộ danh mục tín dụng của ngân hàng, xuất hiện khi NH thiếu linh hoạt trong danh mục cho vay. Tập trung quá nhiều vốn vào một số khách hàng hoặc công ty kinh doanh thuộc chung một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một khu vực địa lí, một hình thức cho vay có rủi ro cao có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.