Chương 1 TONG QUAN 1. Téng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hiện nay các nghiên cứu về dê phổ biến đó là phát triển chăn nuôi đê hoặc hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi dé, những nghiên cứu về quyết định mở rộng đầu tu khá phong phú đối với nhiều vật nuôi khác (như lợn/heo, bò) và thuỷ sản, còn với đối tượng vật nuôi là đê thì còn rất hạn chế, do đó tác giả tông quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau: 1. Nghiên cứu trong nước Bùi Thị Yến (2013) với nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mở rộng quy mô nuôi heo công nghiệp của hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk, nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp điều tra chọn mẫu thuận tiện từ 120 hộ nuôi heo thịt. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, hoạt động chăn nuôi heo thịt của hộ tuy đạt hiệu quả chưa cao nhưng cũng đã góp phần làm tăng thêm thu nhập cho nông hộ.
Thông qua phương pháp phân tích doanh thu - chi phí cho thấy, hộ chăn nuôi sẽ không có lời khi đưa công lao động nhà vào chỉ phí sản xuất. Các nguồn chỉ phí đầu vào ở mức cao như chi phí thức ăn, chi phí con giống và chi phí lao động, chiếm trên 95% trong tông chỉ phí giá thành sản phẩm. Kết quả từ mô hình hồi quy Logit cho thấy các yêu tố chủ yếu tác động đến ý định mở rộng quy mô nuôi heo công nghiệp của hộ chăn nuôi là kỳ vọng giá bán, kỳ vọng thu nhập, khuyến nông, khả năng đầu tư, tình hình dịch bệnh, học vấn của chủ hộ và nguồn lực lao động của nông hộ. Phạm Xuân Thanh va Mai Thanh Cúc (2014) với nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương thức chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy nhu cầu chăn nuôi theo phương thức công nghiệp của các cơ sở chăn nuôi lợn thịt trên dia ban tỉnh Thanh Hóa rất lớn. Tuy nhiên, trên thực tế không phải mọi cơ sở có nhu cầu chăn nuôi theo phương thức này ở địa phương đều quyết định lựa chọn phương thức chăn nuôi công nghiệp. Nghiên cứu cũng đã sử dụng mô hình hồi quy Logit dé phân tích các yếu tố ảnh hưởng thông qua dữ liệu phỏng vấn ngẫu nhiên 366 hộ chăn nuôi ở 6 xã thuộc 3 huyện đại diện cho các các quy mô, loại hình khác nhau. Kết quả chỉ ra, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định học lựa chọn phương thức chăn nuôi của các hộ gia đình, trang trại, trong đó số năm đi học của chủ hộ, thu nhập bình quân của hộ/năm, von đầu tư ban đầu, diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ và tình trạng tham gia liên kết trong chăn nuôi lợn thịt là các yếu tố chủ yếu.
Lê Hồng Hạnh (2015) đã tiễn hành nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển chăn nuôi dé ở huyện Son Động, tinh Bac Giang. Đề tài nghiên cứu cho thay mô hình chăn nuôi dé của huyện hiện nay phát triển theo hướng trang trại, VAC được nhân rộng, chăn nuôi dê theo hướng bán công nghiệp, công nghiệp và sử dụng giống nhập dé đực F1 như dê Bách thảo hay dé Boer dần được phổ biến trong các hộ gia đình nông dân. Dù gặp nhiều khó khăn và dịch bệnh nhưng năm 2015 có nhiều hộ chăn nuôi đã đạt được lợi nhuận bình quân trên 70 triệu đồng một năm. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra vấn đề tiếp cận thông tin về thị trường đầu vào, đầu ra, kỹ thuật chăn nuôi dê của các hộ nông dân chăn nuôi còn gặp nhiều hạn chế, thiếu kịp thời, thiếu đồng bộ.
Bên cạnh đó trình độ tiếp thu của một bộ phận nông dân còn thấp, khó khăn trong việc truyền dat cũng như tiếp nhận những kỹ thuật tiến bộ áp dụng cho chăn nuôi cũng như học hỏi kinh nghiệm chăn nuôi của người khác. Mai Quyên (2016) với nghiên cứu phát triển chăn nuôi dê trên địa bàn huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Nghiên cứu cho thấy chăn nuôi dê ở Ba Vì có hai mục đích chính là chăn nuôi dê lấy thịt và lấy sữa, đa số các hộ chăn nuôi theo hướng hàng hoá, việc dé lại gia đình tiêu dùng với tỷ lệ rất nhỏ. Phương thức chăn nuôi dé phố biến của các hộ tại địa phương là kết hợp nuôi nhốt với chăn thả.
Ngoài các loại cỏ lá, tự nhiên mà dê kiếm được khi chăn thả, chúng còn được cung cấp một lượng thức ăn tinh hỗn hợp và thức ăn xanh thô tại chuồng vào ban đêm hoặc những ngày mưa gió không đi chăn thả. Quy mô chăn nuôi ở các hộ đã có chuyền biến tích cực, có ba loại quy mô là nhỏ, trung bình và lớn, tuy nhiên số hộ nuôi quy mô lớn hiện nay còn hạn chế. Tác giả đã chỉ ra phát triển chăn nuôi đê ở Ba Vì còn một số khó khăn tác động đó là: Thiếu vốn, giá đầu vào cao trong khi giá bán sản phẩm còn thấp, sự tiếp cận với khoa học kỹ thuật của người chăn nuôi còn nhiều hạn chế, hệ thông dịch vụ chăn nuôi chưa phát triển và chưa hoạt động mạnh mẽ, chưa phát huy được vai trò của hệ thong khuyén nông, các cơ sở chế biến sản pham từ chăn nuôi dê trên địa bàn huyện còn chậm phát triển, thị trường xuất khâu chưa được khai thác. Nguyễn Qué Côi và cộng sự (2016) đã thực hiện nghiên cứu xác định mô hình chăn nuôi lợn hướng nạc có hiệu quả kinh tế cao trong nông hộ khu vực Đồng bằng Sông Hồng.
Nghiên cứu tập trung vào 2 tỉnh là Nam Định va Bắc Ninh dé đánh giá hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn theo quy mô gia trại và trang trại. Nghiên cứu đã áp dụng mô hình hồi quy Logit với 10 biến độc lập dé phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia mô hình chăn nuôi lợn hướng nạc của các hộ nuôi: Lao động, hợp đồng thu mua sản phẩm, vốn, kinh nghiệm, trình độ học van, số lần tham gia tập huấn kỹ thuật, liên kết sản xuất, liên kết tiêu thu, lợi nhuận và diện tích. Kết quả, biến diện tích có tác động làm giảm xác suất tham gia của hộ nuôi, các biến khác như hợp đồng thu mua, liên kết trong tiêu thụ, lợi nhuận, lao động, vốn, trình độ học vấn, điện tích có tỉ lệ chấp nhận tham gia mô hình cao. Trần Duy Đông (2017) đã tiễn hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định đầu tư mở rộng nuôi ốc hương của các hộ dan tại tinh Ninh Thuận, nghiên cứu đã khảo sát 107 hộ nuôi nuôi ốc hương ở 03 huyện Ninh Hải, Ninh Phước và Thuận Nam.
Kết quả cho thấy, năng suất trung bình tính trên quy mô 01 ha/vụ nuôi tại các hộ điều tra đạt 51,6 tan/ha với mức giá trung bình trên kilogam ốc 207.000 đồng, doanh thu đạt 10,7 tỷ đồng mang lại lợi nhuận thu về của hộ nuôi được khảo sát là 5,7 ty đồng/vụ. Hiệu quả kinh tế về tỷ suất lợi nhuận/chi phí sản xuất là 1,17 lần. Việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mở rộng nuôi ốc hương tại địa phương bằng mô hình hồi quy nhị phan Binary Logistic chỉ ra yếu tố về tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ tín dụng phục vụ sản xuất, kết nối giữa người sản xuất và thị trường, tác động mạnh đến quyết định đầu tư mở rộng sản xuất. Hoàng Trọng Nam (2019) đã tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mở rộng quy mô nuôi bò sữa tại huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng, nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn hai xã Đạ Ròn và Tu Tra với quy mô mẫu khảo sát là 130 hộ chăn nuôi bò sữa.
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh, phân tích lợi ích chi phí và hồi quy Logit. Kết quả nghiên cứu đã cho thay việc nuôi bò sữa tại huyện Đơn Dương mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, tuy nhiên việc phát triển mô hình nuôi bò sữa còn có những khó khăn có thẻ kể đến như chất lượng con giống, tình hình dịch bệnh, chi phí thức ăn và giá cả trên thị trường. Thông qua mô hình hồi quy Logit, nghiên cứu đã xác định được các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định mở rộng đầu tư nuôi bò sữa của hộ chăn nuôi là: Lao động: Diện tích đất phục vụ chăn nuôi; Tham gia tập huấn; Tài chính; Dịch bệnh và Giá bán. Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững mô hình nuôi bò sữa tại huyện Đơn Dương đó là: (1) Giải pháp về tăng cường công tác tập huấn khuyến nông; (2) Giải pháp về vốn; (3) Giải pháp về phòng trừ dich bệnh; (4) Giải pháp về thị trường tiêu thụ; và (5) Giải pháp về nâng cao năng lực chủ hộ và đảm bảo lao động phục vụ chăn nuôi.
Nguyễn Thị Yến Linh và cộng sự (2019) với nghiên cứu hiệu quả của mô hình nuôi đê bán chăn thả và nuôi đê nhốt chuồng tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên sâu (KIP) lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tinh Trà Vinh và phỏng vấn điều tra 120 nông hộ chăn nuôi tại 04 xã thuộc huyện Duyên Hải. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nguồn chi phí đầu vào ở mức trung bình như chi phí thức ăn, chi phí con giống và chi phí lao động chiếm trên 40% trong tổng chi phí giá thành sản phẩm. Trong khi đó, giá bán sản phẩm đầu ra chưa ổn định và luôn biến động nên người nuôi luôn ở thé bị động về giá.
Hai mô hình nuôi dê bán chăn thả (thu nhập 113,27 triệu đồng/năm/hộ) và nuôi dê nhốt chuồng (thu nhập 136,11 triệu đồng/năm/hộ) đều mang lại hiệu quả chăn nuôi khá tốt. Thông qua mô hình hồi quy đa biến đã xác định được các yếu tố anh hưởng đến lợi nhuận của hộ chăn nuôi dé tại huyện Duyên Hải, có thé ké đến đó là: Số năm kinh nghiệm nuôi dê, việc tham gia tập huấn, học vấn của chủ hộ, mô hình nuôi, mật độ nuôi đê. Các tác giả cũng đã chỉ ra trong điều kiện thích ứng với biến đồi khí hậu, mô hình nuôi dê nhốt chuồng mang lại lợi nhuận cao hơn, ít ảnh hưởng đến môi trường, tận dụng được phê phẩm của dê vào trồng trot.